Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    TS. Nguyễn Văn CườngĐại học Potsdam, CHLB Đức

    Mở đầu
    Ngày 28.07.2017 chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông thông qua [1]. Việc phân tích chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trên cơ sở khoa học giáo dục giúp cho việc hiểu rõ hơn chương trình giáo dục, làm cơ sở cho việc thực hiện cũng như đánh giá chương trình. Cơ sở khoa học giáo dục rất phức hợp, liên quan nhiều lĩnh vực như triết học giáo dục, tâm lí, giáo dục học, lí luận dạy học và lí thuyết phát triển chương trình. Bài viết này phân tích chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trên cơ sở triết lí giáo dục và các xu hướng tiếp cận hiện đại trong phát triển chương trình giáo dục.
    Triết lí giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
    Trong chương trình giáo dục không trình bày cơ sở triết lí hay lí thuyết giáo dục vì đó không phải là thành phần nội dung của chương trình giáo dục. Tuy nhiên có thể nhận ra và đánh giá tư tưởng triết lí của một chương trình giáo dục vì khi xây dựng chúng cần dựa trên các cơ sở khoa học giáo dục, trong đó có triết lí giáo dục.
    Theo triết lí khai sáng, giáo dục có nhiệm vụ giúp con người chưa trưởng thành đạt đến sự trưởng thành, con người cần được trang bị khả năng tự chủ, được giải phóng khỏi sự lệ thuộc. Triết lí giáo dục nhân văn tiếp nối tư tưởng khai sáng, quan niệm giáo dục có nhiệm vụ đào tạo con người phát triển toàn diện nhân cách, học sinh cần được đào tạo về kiến thức phổ thông toàn diện trước khi đào tạo nghề. Triết lí giáo dục khai sáng và triết lí giáo dục nhân văn được vận dụng trong giáo dục của nhiều quốc gia từ thế kỉ, 18, 19 đến nay. Tuy nhiên, từ cuối thế kỉ 20, giáo dục được đòi hỏi cần chuẩn bị tốt hơn nữa cho con người vào cuộc sống. Có thể coi bốn trụ cột giáo dục do UNESCO đưa ra năm 1996 là triết lí giáo dục cho thế kỉ 21, triết lí giáo dục định hướng cuộc sống: “học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để sống” [8]. Nhiệm vụ của giáo dục theo triết lí giáo dục định hướng cuộc sống là: giáo dục có nhiệm vụ chuẩn bị cho con người khả năng giải quyết các tình huống của cuộc sống.
    Những tư tưởng triết lí nêu trên đều được thể hiện trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Mục tiêu giáo dục phát triển toàn diện nhân cách con người được quy định trong Luật giáo dục của Việt Nam: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp,…” [6], được khẳng định lại trong nghị quyết 29-NQ/TW: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả” [3] và được cụ thể hóa trong chương trình giáo dục tổng thể: “Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hòa đức, trí, thể, mỹ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống” [1]. Mục tiêu giáo dục phát triển toàn diện nhân cách, hài hòa đức, trí, thể, mỹ chính là sự thể hiện của triết lí giáo dục nhân văn. Định hướng phát triển phẩm chất và năng lực chính là nhằm thực hiện mục tiêu chuẩn bị cho con người khả năng giải quyết các tình huống của cuộc sống. Như vậy có thể coi điểm mới về triết lí giáo trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể chính là sự nhấn mạnh triết lí giáo dục định hướng cuộc sống thông qua giáo dục định hướng phát triển năng lực cho học sinh. Phát triển phẩm chất và năng lực cho người học, bao gồm năng lực tự chủ cũng phù hợp với tư tưởng cơ bản của triết lí giáo dục khai sáng.
    Các tiếp cận hiện đại trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
    Định hướng phát triển phẩm chất và năng lực
    Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể thực hiện quan điểm định hướng của nghị quyết 29-NQ/TW chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học“ [3].
    Dự thảo chương trình tổng thể đã đưa ra hệ thống các phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi. Phẩm chất và năng lực là những thuộc tính nhân cách con người, giữa chúng có mối liên hệ và có sự giao thoa. Việc phân biệt giữa phẩm chất và năng lực phù hợp với quan niệm truyền thống của Việt Nam về „đức“ và „tài“. Xác định hệ thống phẩm chất và hệ thống năng lực trong chương trình giáo dục cung cấp một định hướng cho việc giáo dục phẩm chất và hình thành năng lực. Các phẩm chất chủ yếu được đưa ra trong chương trình tổng thể (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) phù hợp với quan niệm đạo đức và quan niệm giá trị của Việt Nam. Trong quá trinh dạy học, tất nhiên còn nhiều phẩm chất khác được hình thành cho học sinh.
    Định hướng phát triển năng lực là xu hướng quốc tế trong phát triển chương trình giáo dục. Hệ thống các năng lực cốt lõi được đưa ra trong chương trình giáo dục tổng thể bao gồm các năng lực chung và các năng lực chuyên môn phù hợp với lí thuyết về năng lực, dã tham khảo các mô hình năng lực có tính phổ biến [4], [5], có ý nghĩa định hướng việc phát triển các năng lực chung và năng lực chuyên môn gắn với các môn học. Chương trình giáo dục tổng thể có nhiệm vụ quy định các phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi. Việc hình thành và phát triển chúng là nhiệm vụ tiếp theo của chương trình các môn học, hoạt động giáo dục và việc triển khai thực hiện.
    Định hướng chuẩn
    Định hướng chuẩn là một tiếp cận trong chương trình giáo dục tổng thể. Tuy nhiên trong chương trình giáo dục tổng thể không sử dụng khái niệm chuẩn mà sử dụng khái niệm „yêu cầu cần đạt“, được hiểu là „kết quả mà học sinh cần đạt được về phẩm chất và năng lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ) sau mỗi cấp học, lớp học ở từng môn học; trong đó, mỗi cấp học, lớp học sau đều có những yêu cầu riêng cao hơn, đồng thời bao gồm cả những yêu cầu đối với các cấp học, lớp học trước đó“ [1]. Các yêu cầu cần đạt được xây dựng trong chương trình giáo dục của các môn học với ý nghĩa của chuẩn giáo dục môn học (chuẩn kết quả).
    Tiếp cận dạy học tích hợp
    Tăng cường dạy học tich hợp là một tiếp cận mới trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể: “Dạy học tích hợp là định hướng dạy học giúp học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng” [1].
    Quan điểm tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hóa dần ở các lớp học trên trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể là quan điểm phù hợp. Một trong những yếu tố mới của chương trình chính là các môn học tích hợp Khoa học tự nhiên và môn Lịch sử và Địa lí ở bậc trung học cơ sở. Ngoài ra dạy học tích hợp cần được thực hiện qua nhiều hình thức khác như tích hợp trong môn học, liên hệ mở rộng môn học, thực hiện các chủ đề tích hợp đa môn, các dự án tích hợp liên môn. Hoạt động trải nghiệm và các chuyên đề học tập có điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các dự án học tập tích hợp, liên môn. Dạy học tích hợp đòi hỏi sự cộng tác làm việc nhiều hơn giữa các giáo viên.
    Tiếp cận dạy học phân hóa
    Dạy học phân hóa là một tiếp cận trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, được hiểu là „định hướng dạy học phù hợp với các đối tượng học sinh khác nhau, nhằm phát triển tối đa tiềm năng vốn có của mỗi học sinh dựa vào đặc điểm tâm - sinh lý, khả năng, nhu cầu, hứng thú và định hướng nghề nghiệp khác nhau của học sinh“ [1].
    Điểm mới của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể là chương trình phân hóa ở bậc trung hoc phổ thông theo định hướng nghề nghiệp. Theo đó, mỗi học sinh cần học 5 môn bắt buộc và được chọn 5 môn trong ba nhóm Khoa khọc xã hội, Khoa học tự nhiên, Công nghệ và nghệ thuật), tối thiểu mỗi nhóm chọn 1 môn. Ngoài ra các chuyên đề học tập, Hoạt động trải nghiệm, nội dung giáo dục địa phương nhằm hỗ trợ mở rộng, kết nối và gắn các môn học đã được học sinh chọn với thực tiễn, không phải các môn học mới. Phương án phân hóa này có những ưu điểm sau:
    · Đối với học sinh: Giảm bớt số môn học, có điều kiện tập trung vào một số môn học theo hứng thú và định hướng nghề nghiệp của cá nhân, tuy nhiên vẫn đảm bảo tính toàn diện của học vấn. Đó cũng là tính nhân văn trong giáo dục.
    · Đối với quốc gia: Việc quy định các môn Tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ 1 là các môn bắt buộc nhằm đảm bảo nguồn nhân lực được đào tạo trình dộ trung học phổ thông ở các môn học nòng cốt. Việc yêu cầu học sinh chọn các môn học ở cả ba nhóm nhằm đảm bảo mục tiêu giáo dục toàn diện và hỗ trợ giáo dục STEM.
    · Đối với giáo viên: Đảm bảo dộ ổn định cần thiết cho việc sử dụng đội ngũ giáo viên ở trường phổ thông và đâò tạo giáo viên.
    Định hướng nghề nghiệp và định hướng khoa học
    Giáo dục hướng nghiệp được quy định trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể: „Giáo dục hướng nghiệp bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trường phối hợp với gia đình và xã hội nhằm trang bị kiến thức, hình thành năng lực định hướng nghề nghiệp cho học sinh, từ đó giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, tính cách, sở thích, quan niệm về giá trị của bản thân, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của gia đình và phù hợp với nhu cầu của xã hội“. Trong chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục hướng nghiệp được thực hiện thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục [1]. Nội dung giáo dục hướng nghiệp ở trung học cơ sở cần chú trọng hỗ trợ học sinh chọn nghề sau trung học cơ sở. Ở bậc trung học phổ thông cần chú ý nhiều hơn đến định hướng ngành nghề trong đào tạo đại học, định hướng cho học sinh vào hoạt động nghiên cứu khoa học cũng như học tập chuyên ngành ở đại học.
    Định hướng hướng giáo dục STEM
    Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể quán triệt chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 4 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư [2], đã dành sự chú ý cho việc hỗ trợ giáo dục STEM. Giáo dục STEM cần trang bị cho người học những năng lực cần thiết liên quan đến các lĩnh vực toán học, khoa học, công nghệ, kỹ thuật, tin học. Học sinh cần vận dụng các kiến thức của các lĩnh vực này trong mối liên kết với nhau để thiết kế, chế tạo ra các sản phẩm thông qua hoạt động thực hành. Trong chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục STEM không phải một môn học. Giáo dục STEM được hỗ trợ thông qua các môn Toán học, Khoa học tự nhiên, Công nghệ và Tin học, thông qua hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cũng như các dự án, chuyên đề học tập, câu lạc bộ. Việc đưa môn tin học trở thành môn học bắt buộc ở trung học cơ sở cũng như nhóm môn học công nghệ, tin học là một trong ba nhóm môn học được học sinh lựa chọn ở trung học phổ thông là gỉải pháp tích cực hỗ trợ giáo dục STEM.
    Chương trình giáo dục “mở
    Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo hướng mở. Chương trình các môn học không quy định quá chi tiết về nội dung dạy học, để tạo điều kiện cho viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể. Chương trình cũng dành thời gian cho nội dung giáo dục địa phuong [1]. Tính mở của chương trình mới tạo không gian chủ động cho địa phương, nhà trường và giáo viên nhưng cũng đòi hỏi cao hơn đối với nhà trường và giáo viên trong việc xây dựng chương trình giáo dục riêng của nhà trường trên cơ sở chương trình khung của Bộ.
    Những thách thức trong việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới
    Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể là cơ sở cho việc phát triển chương trình các môn học và triển khai thực hiện chương trình giáo dục. Có những điều kiện cần được đáp ứng cũng như những thách thức cần vượt qua nhằm đảm bảo thực hiện thành công chương trình giáo dục phổ thông mới:
    · Những tư tưởng và định hướng của chương trình tổng thể cần được thể hiện trong chương trình các môn học và hoạt động giáo dục. Các chương trình môn học cần thực sự là các chương trình giáo dục định hướng năng lực.
    · Việc triển khai thực hiện chương trình mới cần có sự đồng bộ với việc phát triển sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn, bồi dưỡng, đào tạo giáo viên, đổi mới kiểm tra đánh giá, thi cử, đổi mới quản lí giáo dục, tăng cướng tính tự chủ và dân chủ trong trường học.
    · Đổi mới chương trình giáo dục cần có sự đầu tư thích hợp về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học.
    · Đổi mới giáo dục cần có sự đồng thuận và ủng hộ của phụ huynh học sinh và xã hội. Cần xây dựng một văn hóa học tập mới, chuyển từ văn hóa học tập chạy theo thi cử và bằng cấp sang một văn hóa học tập để chuẩn bị cho cuộc sống một cách thiết thực, theo tinh thần „thực học, thực nghiệp“.
    Kết luận
    Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được xây dựng trên cơ sở khoa học về phát triển chương trình giáo dục, tiếp cận các xu thế quốc tế hiện đại và tiến bộ, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể tạo ra một khung định hướng cần thiết cho việc phát triển chương trình các môn học và thực hiện cải cải cách căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông theo tinh thần của nghị quyết 29-NQ/TW và nghị quyết 88/2014/QH13, nhằm đáp ứng các yêu cầu của sự phát triển kinh tế và xã hội trong điều kiện mới. Tuy nhiên để hiện thực hóa chương trình giáo dục phổ thông tổng thể cần các biện pháp triển khai phù hợp và đồng bộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, sự đầu tư của Nhà nước, sự đồng thuận và ủng hộ của phụ huynh học sinh và xã hội.
    Tài liêu tham khảo
    · Bộ Giáo dục và Đào tạo (tháng 7.2017): Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể.
    · Chính phủ (2017): Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 4 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
    · Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (2013): Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
    · Eurydice European Unit (2002): Key Competencies – A Developing Conceptin General Compulsory Education.
    · OECD (2005): The Definition and Selection of Key Competencies: Executive Summary.
    · Quốc hội khóa XII (2010): Luật Giáo dục đã được sửa đổi bổ sung.
    · Quốc hội khóa XIII (2014): Nghị quyết số 88/2014/QH13.
    · UNECSO (1996): Learning - The Treasure Within.
    Tóm tắt
    Bài báo phân tích chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong mối liên hệ với triết lí giáo dục và các xu hướng tiếp cận hiện đại trong phát triển chương trình nhằm làm rõ các cơ sở khoa học của chương trình. Các xu hướng tiếp cận hiện đại được đề cập ở đây là định hướng năng lực, định hướng chuẩn, dạy học tích hợp, dạy học phân hóa, định hướng nghề nghiệp, định hướng giáo dục STEM. Bài viết cũng đề cập đến những thách thức trong việc triển khai thực hiện chương trình.
    Từ khóa
    Chương trình giáo dục, dạy học tích hợp, dạy học phân hóa, định hướng năng lực, định huongs nghề nghiệp, triết lí giáo dục

    Overall general education curriculum from educational scientific perspective
    Abstract
    The Article analyzes the overall general education curriculum in relation to the educational philosophy and modern trends in the curriculum development to clarify the scientific basis of the curriculum. Mentioned modern approaches competence orientation, standards orientation, integrated teaching, differentiated instruction, career orientation and STEM educational orientation. The paper also addresses challenges in the implemetation of the curriculum.
    Keywords

    career orientation, competence orientation, Curriculum, differential education, educational philosophy, integrated teaching
    tseggus thích bài viết này

Ủng hộ bài viết này