Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator


    Kính gửi: Đồng chí Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

    Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT tại Công văn số 1775/BGDĐT-VP ngày 28/4/2017, tôi xin góp một số ý kiến đối với Dự thảo Chương trình tổng thể của Chương trình Giáo dục phổ thông (CTGDPT) như sau:

    A. VỀ NỘI DUNG DỰ THẢO CHƯƠNG TRÌNH TỔNG THỂ
    I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
    1. Dự thảo CT tổng thể đã quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tại Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của BCHTW Đảng (sau đây gọi tắt là NQ 29), Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội (sau đây gọi tắt là NQ 88), Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09/6/2014 của Chính phủ và Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông (sau đây gọi tắt là QĐ 404). Dự thảo đã quán triệt nghiêm túc quan điểm chỉ đạo về định hướng đổi mới giáo dục, đào tạo, thể hiện các điểm chủ yếu sau đây:
    - Đã quán triệt quan điểm của NQ 29: “… Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; … Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới...”.
    - Quán triệt định hướng trong các văn bản của TW Đảng, Quốc hội, Chính phủ và và Thủ tướng Chính phủ nói trên: “… Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội...”
    - Đã chú trọng quán triệt quan điểm của NQ 29: “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hoá, hiện đại hoá giáo dục và đào tạo.”
    2. Về cơ bản, Dự thảo đã tiếp cận xu hướng phát triển CTGDPT của các nước tiên tiến ở mức độ ban đầu phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, thể hiện ở định hướng: (i) chú trọng phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; (ii) chuẩn bị cho HS biết tự định hướng nghề nghiệp phù hợp hơn với nhu cầu XH và năng lực, sở trường bản thân; (iii) dạy học phân hóa rõ rệt ở cấp THPT…
    3. Về cơ bản, Dự thảo CT đã kế thừa chương trình GDPT hiện hành ban hành theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT. Thể hiện ở: (i) quy định các môn học và nội dung hoạt động giáo dục cốt lõi; (ii) số tuần của mỗi năm học, thời lượng mỗi tiết học và số tiết học mỗi tuần của HS các cấp; (iii) các kỳ thi ở GDPT; (iv) định hướng mở rộng quy mô học 2 buổi/ngày để khắc phục tình trạng quá tải do thời lượng học tập thấp của HS phổ thông (theo một số tổ chức quốc tế, thời lượng học tập của HSPT nước ta mới đạt khoảng 75-80% mức trung bình của các nước phát triển).

    II. KẾ HOẠCH GIÁO DỤC
    1. Dự thảo CT cần phân biệt khái niệm “môn học” “hoạt động giáo dục” để làm rõ về kết cấu nội dung CT; thống nhất nhận thức về mục tiêu của các môn học và HĐGD quy định trong CT, khuyến khích sáng tạo trong việc lựa chọn phương pháp, phương tiện, không gian tổ chức thực hiện các HĐGD.
    2. Về quy định các môn học trong CTGDPT được chia thành: “các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” là hợp lý, phù hợp với quy định của nhiều nước khác.
    Tuy nhiên, về tên gọi “môn học tự chọn bắt buộc” có thể đổi thành: “môn học lựa chọn” với sự giải thích rõ ràng khái niệm này cho dễ hiểu và tương thích với cách gọi ở CTGDPT của các nước khác.
    3. Thời lượng học tập tại trường của HSPT nước ta vẫn là một bất cập lớn cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Hơn nữa, việc học 1 buổi/ngày còn làm phát sinh tình trạng dạy thêm học thêm tràn lan gây ra nhiều tiêu cực, GV giao khối lượng học tập ở nhà cho HS quá nhiều... Đổi mới CTGDPT lần này cần đề ra giải pháp căn bản để từng bước khắc phục tình trạng này trong quá trình hội nhập với giáo dục thế giới.
    Nên chăng, Dự thảo CT cần đặt ra mục tiêu áp dụng thời lượng học tập tại trường mỗi năm học của HS tương đương với các nước có nền giáo dục phát triển, chậm nhất là từ sau năm 2025. Để hướng tới mục tiêu đó, nay cần quy định 2 mức thời lượng về số tuần trong mỗi năm học, số buổi học tối thiểu trong mỗi tuần; mức thời lượng thấp áp dụng cho những nơi chưa có điều kiện và mức cao hơn áp dụng cho những nơi có điều kiện (tránh tình trạng nơi có điều kiện phải tổ chức thực hiện kế hoạch học trên 6 buổi/tuần thiếu khoa học).

    III. VỀ ĐỊNH HƯỚNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC
    1. Quy định như Dự thảo CT là hợp lý và có độ mở cần thiết cho việc tiếp tục duy trì hay không duy trì kỳ thi tốt nghiệp THPT. Chậm nhất là sau năm 2025, việc thi hoặc kiểm tra công nhận tốt nghiệp THPT cần phân cấp cho UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, việc tuyển sinh ĐH giao cho các cơ sở giáo dục ĐH.
    2. Việc áp dụng cấp tín chỉ theo học phần đối với một số chuyên đề học tập, nhất là ở THPT, là cần thiết và phù hợp, thuận lợi cho việc quản lý của cơ sở giáo dục và linh hoạt cho HS mà quá trình học tập bị gián đoạn vì lý do nào đó.
    3. Khi triển khai CTGDPT mới, cần phải điều chỉnh đề thi tốt nghiệp, tuyển sinh cho phù hợp với CT để khắc phục tình trạng lệch lạc trong việc tổ chức dạy học và lựa chọn môn học/HĐGD của HS (khi áp dụng CTGDPT mới vừa qua chưa có sự điều chỉnh này).
    III. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỚI
    1. Khó khăn trở ngại lớn nhất đối với việc áp dụng CT mới là về nhân lực (CBQL, GV, nhân viên) và CSVC (trường lớp, thiết bị dạy học, phục vụ thực hành...).
    a) Về đội ngũ GV, cần lập một Đề án đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng GV cho phù hợp với CTGDPT mới và tổ chức một hội nghị các trường/khoa sư phạm triển khai chủ trương này đến lãnh đạo cơ sở giáo dục ĐH, trường, khoa đào tạo GV cả 3 cấp học của GDPT. Sau đó, tổ chức chỉ đạo chặt chẽ và kiểm tra việc thực hiện ở cơ sở đào tạo để bảo đảm chất lượng đào tạo mới và bồi dưỡng đội ngũ GV được đào tạo từ trước (khi áp dụng CT mới lần trước thiếu sự điều chỉnh này!).
    b) Cần khảo sát thực tế tự chọn của HS để tính toán nhu cầu GV THPT về số lượng theo môn học/HĐGD (ở các nước HS tự chọn môn học, nhu cầu khoảng 10-12 HS/GV như Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Pháp, Mỹ... Ở nước ta hiện nay định mức GV THPT theo quy định tại Thông tư 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23/8/2006 là 2,25 GV/lớp, tương đương với 20 HS/GV).
    c) Cần tiến tới quy định chuẩn đào tạo GVPT lên trình độ ĐH theo định hướng tại Nghị quyết số 29; GV cấp THCS và THPT được đào tạo dạy 2 môn như một số nước châu Âu đã áp dụng.
    d) Về CSVC, cần tính toán nhu cầu phòng học tăng thêm cho cấp THPT (ở các nước HS tự chọn môn học, nhu cầu bình quân 10-12 HS/phòng học - như ở Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Pháp, Mỹ...).
    đ) Cần khẩn trương lập danh mục thiết bị dạy học tối thiểu các môn học/HĐGD, nhất là các môn học/HĐGD mới hoặc có nội dung mới và duyệt mẫu để kịp mua sắm phục vụ việc triển khai áp dụng CT mới.
    2. Về quy định học 2 buổi/ngày đối với tiểu học: Thực tế cho thấy, trong 10 năm gần đây, cấp tiểu học đã chuyển dần sang học 2 buổi/ngày và được nhân dân hoan nghênh vì đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và nhu cầu quản lý trẻ em trong độ tuổi, nhất là ở đô thị và vùng KT-XH phát triển. Qua thực tế thực hiện Chương trình “Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học” (SEQAP - 2010-2016) đối với cấp tiểu học, cho thấy quy định như trong Dự thảo CTGDPT: “… đến năm học 2022-2023 dạy học 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp tiểu học” là khả thi. Tuy nhiên, cần phải hoạch định lộ trình chuyển đổi khả thi, không máy móc áp dụng một chuẩn đồng loạt, mà đặt ra các mức thời lượng cho phù hợp với điều kiện các vùng miền khác nhau: trên 5 buổi/ tuần và 35 tiết/tuần (thời lượng học tập của HS tiểu học ở các nước có nền giáo dục phát triển).

    B. VỀ MỘT SỐ CHI TIẾT CỤ THỂ
    I. VỀ VĂN BẢN DỰ THẢO
    1. Cần cân nhắc khi khẳng định: “… là cam kết của Nhà nước bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục phổ thông” (tr. 5, dòng 4-5; trang 30, dòng 1-2 dl). Lý do cần cân nhắc khẳng định này là:
    - Trước hết, chất lượng GDPT còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố khác, như chất lượng đội ngũ GV, phương pháp dạy học, CSVC, triển vọng phát triển của người học sau khi hoàn thành CTGDPT các cấp… Mặt khác, chủ thể thực hiện CTGDPT có thể là giáo dục chính quy (formal education), gồm trường công lập, trường tư thục; giáo dục không chính quy (non-formal education) và cả giáo dục phi chính quy (in-formal education), vớiđiều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục rất khác nhau. Giáo dục phi chính quy, trong đó có hình thức học tại nhà - home schooling - đang có xu hướng phát triển ở một số nước, không chỉ dành cho người khuyết tật. (Cần lưu ý rằng, trong hệ thống thuật ngữ giáo dục nước ta chưa phân biệt rõ điều này, như văn bản của các nước ASEAN và các nước khác trên thế giới. Ở nước ta, chưa có sự phân biệt cần thiết và còn gộp chung giáo dục không chính quy với giáo dục phi chính quy trong khái niệm giáo dục thường xuyên (continuing education).
    - Thêm nữa, Nhà nước chưa đủ khả năng và không thể cung ứng các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục cho mọi chủ thể giáo dục thì khó có thể coi CTGDPT là “bảo đảm cho chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục phổ thông”. (Có thể là chưa có sự tham khảo đầy đủ, nhưng chưa thấy cơ quan lãnh đạo, quản lý có thẩm quyền nào khẳng định điều này bằng văn bản).
    2. Để thể hiện vai trò của CTGDPT đối với hệ thống giáo dục quốc dân, chỉ sử dụng danh từ “HS”, “GV”, “trường học”, “nhà trường” trong trường hợp giáo dục chính quy, còn ở trường hợp khác cần thay bằng từ “người học”, “người dạy”, “cơ sở giáo dục”, “chủ thể giáo dục” cho phù hợp như cách diễn đạt ở các nước ASEAN và các nước khác trên thế giới. (Cần lưu ý rằng, ở nước ta, trong một số năm gần đây, có một số người cao tuổi, người khuyết tật ở các lứa tuổi khác nhau tham gia thi tốt nghiệp THPT, thi tuyển sinh TCCN, ĐH, CĐ… với tư cách thí sinh tự do).
    3. Mục Điều kiện thực hiện CTGDPT: Cần bỏ chữ “và học sinh” vì không quy định về HS trong mục này (trang 29, dòng 1).
    4. Phụ lục, Mục 2 (Biểu hiện phẩm chất của HS), đối chiếu với quy định giáo dục đạo đức cho HSPT của một số nước, nên bổ sung vài chi tiết sau đây:
    a) Phẩm chất “Yêu quý mọi người”, cần bổ sung biểu hiện cả đối với HS 3 cấp học: thân thiện với bạn bè và người khác.
    b) Phẩm chất “Tôn trọng sự khác biệt…”, cần bổ sung đối với cấp tiểu học và THCS: không có thái độ kỳ thị và hành vi bắt nạt đối với bạn bè, người khác và đấu tranh chống lại các hiện tượng tiêu cực đó (thái độ kỳ thị và hành vi bắt nạt được nhiều nước nhắc đến khi nói về giáo dục đạo đức cho HSPT).
    5. Mục Định hướng nội dung giáo dục, Môn Ngữ văn: Ở Giai đoạn giáo dục cơ bản (trang 12, dòng 3-4), sau chữ: “… văn bản nghị luận và thông tin”: cần bổ sung các chữ: “… văn bản hành chính, văn bản pháp luật…” Giai đoạn định hướng nghề nghiệp (trang 13, dòng 1 dl), sau chữ: “… văn bản nghị luận và văn bản thông tin” cần bổ sung các chữ: “… văn bản hành chính, văn bản pháp luật…”. Điều này là cần thiết để khắc phục tình trạng lâu nay là HS phổ thông nói chung còn rất yếu về kỹ năng đọc hiểu và diễn đạt trình bày các văn bản hành chính, văn bản pháp luật.
    6. Thực tiễn cho thấy, trong một số trường hợp cần thay thuật ngữ “học 2 buổi/ngày” bằng từ: “học trên 5 buổi/tuần” và từ: “học cả ngày - fullday schooling” như cách gọi của các nước khác và thực tiễn giáo dục.
    Lý do: Về bố trí kế hoạch dạy học, thực tế có 4 mức thời lượng: 1 buổi/ngày, trên 6 buổi/tuần, 2 buổi/ngày và cả ngày. Các mức thời lượng nói trên sẽ dẫn đến sự khác nhau về kế hoạch dạy học, bố trí lao động cho người dạy và cơ chế tài chính, đầu tư CSVC. Theo định hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế về giáo dục tất yếu phải từng bước chuyển các trường phổ thông nước ta sang học cả ngày.
    Việc không xác định rõ các mức thời lượng học tập ở GDPT sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý và việc lập quy hoạch phát triển giáo dục, xác định tiêu chuẩn thiết kế xây dựng trường học, nhu cầu diện tích khuôn viên, kế hoạch tài chính áp dụng cho các trường học của các cơ quan chức năng. (Ví dụ, về chi phí của nhà trường và gia đình, trường hợp “học cả ngày” khác với “học 2 buổi/ngày” ở chỗ phát sinh chi phí về bố trí ăn trưa, nghỉ trưa, khoảng thời gian nhà trường chịu trách nhiệm quản lý HS tại trường).

    II. VỀ LỘ TRÌNH ÁP DỤNG CHƯƠNG TRÌNH MỚI
    Nên áp dụng từ lớp 1 đến lớp 12 theo trình tự thời gian như sau:

    8.png

    Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2017
    Lê Quán Trần
    Phó Chủ tịch Hội Cựu Giáo chức Việt Nam

Ủng hộ bài viết này