Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Ý KIẾN GÓP Ý
    DỰ THẢO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỔNG THỂ

    I. VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG DỰ THẢO CT TỔNG THỂ
    1. Những vấn đề chung
    1.1. Dự thảo CT tổng thể đã thể hiện việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ:
    Dự thảo Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể đã thể hiện được định hướng như nghị quyết của Quốc hội đã ban hành, khẳng định rõ có hai giai đoạn: giáo dục cơ bản ( là 9 năm đầu từ Tiểu học đến THCS) và giáo dục định hướng nghề nghiệp học sinh (THPT).
    Việc biên soạn chương tình tổng thể được tiến hành từ tháng 6/2015 một cách cẩn trọng, chu đáo; tiếp thu nhiều ý kiến của giáo chức và dư luận xã hội.
    Không tích hợp từng môn và có một mức độ vừa phải giữa tích hợp và phân hóa. Lớp 10 dùng để nâng cao kiến thức, các lớp 11 và 12 học các môn học chủ yếu là tự chọn để định hướng nghề nghiệp .
    1.3. Dự thảo CT tổng thể có kế thừa các CT GDPT đã có của Việt Nam không? ở mức độ nào?
    Để trả lời câu hỏi này cần phải có một cuộc khảo sát tổng thể đánh giá kết quả của chương trình hiện nay để xem trình độ học sinh khi ra trường đáp ứng được đến mức độ nào? Ngoài ra, chương trình hiện nay có một số môn học mới so với trước đó. Vì thế đánh giá việc giảng dạy/hiệu quả các môn học này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc thực hiện chương trình mới.
    1.4. Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    a) Ở bậc Tiểu học nên đưa phẩm chất “ Yêu con người” lên đầu tiên vì từ đó mới giáo dục các em yêu đất nước được.
    b) Ở cả ba cấp cần phải bổ sung/giáo dục “ Yêu bản thân và hiểu giá trị bản thân”. Yêu bản thân mới yêu thương được người khác và hiểu giá trị bản thân mới tôn trọng sự khác biệt tư người khác.
    Cũng nên bổ sung “ trách nhiệm làm chủ đất nước”. Ở một số nước phẩm chất này bằng cách nào đó được giáo dục xuyên suốt từ cấp tiểu học đến phổ thông, từ đó giúp người dân hiểu rõ tình hình kinh tế chính trị của đất nước.
    2. Kế hoạch giáo dục
    2.3. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học nhiều hay ít? Nếu nhiều (ít) thì nên giảm (tăng) như thế nào?
    a. Khối 10 có tổng số môn học bắt buộc là 15 môn là nhiều. Mặt khác chương trình được thiết kế là “ tự chọn” nhưng các em không được chọn môn nào cả!
    b. Môn Giáo dục quốc phòng và an ninh với định hướng về nội dung giáo dục là “ …có kiến thức cơ bản, cần thiết về phòng thủ dân sự và kỹ năng quân sự; sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc.” là quá khó thực hiện với cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên hiện tại và kể cả mai sau. Có lẽ không có một trường THPT nào trên thế giới làm được việc này?
    Nên dạy/huấn luyện quốc phòng và an ninh cho học sinh/thanh niên dưới hình thức nghĩa vụ quân sự hay huấn luyện kiến thức quốc phòng và an ninh tập trung do cơ quan quân sự phụ trách có cấp giấy chứng nhận để tiện sử dụng. Làm như thế vừa hiệu quả vừa phù hợp với luật nghĩa vụ quân sự và tình hình hiện nay. Giáo dục phổ thông không đủ sức để làm thay cho Bộ Quốc phòng đâu!
    c. Thiết kế và công nghệ cũng là một môn cần cân nhắc thận trọng khi tiếp tục đưa vào chương trình. Thực tế giảng dạy các năm qua cho thấy tác dụng của môn Kỹ thuật Công nghệ là rất thấp và có nhiều nội dung trùng lặp với bộ môn Vật lý. Vụ Giáo dục trung học đã nhiều lần nói đến vấn đề này.
    Ở cấp THPT, nếu cần, chỉ nên dạy với vai trò là môn học tự chọn ở lớp 11,12 với định hướng về nội dung giáo dục vừa phải. Khoảng hai phần ba so với dự thảo thì mới có khả năng thực hiện được. Mục đích chính là để làm tốt nhiệm vụ định hướng của hai lớp 11 và 12.
    d. Cần chú ý giảm tải, giảm sự trùng lặp bằng cách giảm môn học cho học sinh.
    Hoạt động trải nghiệm sáng tạo – một môn mới – có mặt ở tất cả các bậc học, có mục tiêu đầy tham vọng nhưng xem ra rất có khả năng giẫm chân vào các môn học. Sự trùng lặp này cũng là yếu tố gây nên sự quá tải. Nếu không khéo thì các hoạt động này là những chuyến đi biển, du lịch …gây tốn kém cho phụ huynh, gánh nặng cho học sinh con nhà khó khăn.
    2.4. Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Về môn Khoa học máy tính.
    - Tên môn học chưa phù hợp vì nội dung chương trình đưa ra chỉ liên quan đến thuật toán, lập trình và quản trị cơ sở dữ liệu.
    - Nội dung trong môn này hầu hết đều “khó” đối với học sinh THPT. Chỉ có học sinh thật sự yêu thích và thật sự có năng lực mới chọn môn này. Dự đoán là có nhiều trường không có học sinh chọn môn này.
    2.5. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Môn Vật lý.
    - Ở khối 10: số tiết dự kiến là 70. Với nội dung kiến thức như chương trình vật lý 10 hiện nay thì cả giáo viên và học sinh rất căng thẳng.
    - Ở khối 11,12: tổng số tiết 140 là nhiều. Nên bổ sung các bài thực hành là phần từ trước đến nay không được coi trọng; kỹ năng của học sinh còn yếu; không có ảnh hưởng gì nhiều đối với học sinh.
    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Dự thảo CT tổng thể nêu: “Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GDĐT được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Chú ý kết hợp giữa đánh giá bằng nhận xét và bằng điểm số. Ưu tiên đánh giá bằng nhận xét. Kết hợp giữa trắc nghiệm khách quan, trắc nghiệm tự luận với kiểm tra đánh giá qua sản phẩm như bài viết, thuyết trình, mẫu vật sưu tầm, mô hình thiết kế, tư liệu tìm kiếm, kết quả các cuộc thi …Sử dụng hình thức giao bài tập/bài viết có thời gian chuẩn bị khoảng một tháng cho học sinh.
    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CT GDPT
    1. Quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Để thực hiện yêu cầu “ dạy học để phát triển năng lực ” như chương trình yêu cầu phụ thuộc rất lớn vào quy mô trường học và sĩ số một lớp. Nhiều nước chỉ xây dựng trường nhỏ để quản lý có hiệu quả, chú trọng hoạt động dạy và học có thực chất, sĩ số lớp học ngày càng thấp. Bỏ qua vấn đề này, mọi chuyện sẽ như cũ, bất chấp mọi cố gắng đổi mới. Sĩ số không nên quá 35 HS/lớp, số lớp không nên quá 28 lớp/trường.
    Cũng để “ dạy học để phát triển năng lực” cần chú ý tăng thời gian một tiết học. Muốn đủ thời gian thực hiện một chuỗi học tập; phân tích, tổng hợp đánh giá và củng cố thì cần khoảng 55 phút/tiết học ở bậc THPT.
    Không nên quy định mỗi buổi học 5 tiết.
    7. Những môn học, hoạt động giáo dục nào trong dự thảo CT tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác hiện nay?
    a. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo: vì mới, ít thông tin, tên bộ môn có phần lớn lao…
    b. Môn Mỹ thuật, Âm nhạc: mới, chưa hình dung, cơ sở vật chất cho hai môn này hoàn toàn không có.
    c. Giáo dục thể chất: nếu dạy theo hình thức câu lạc bộ thì không đáp ứng nhu cầu sân bãi.
    8. Để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo CT tổng thể có cần cải thiện cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác không? Nếu cần thì nên thực hiện các biện pháp nào?
    Giảm số lớp và giảm sĩ số. Hiện nay là 69 lớp; sĩ số là 40/lớp.
    III. Ý KIẾN KHÁC
    1. Mục tiêu chương trình có ghi: “ Chương trình giáo dục phổ thông nhằm giúp học sinh phát triển khả năng vốn có của bản thân…”. Cần nghiên cứu,làm rõ nội hàm “ khả năng vốn có của học sinh” để làm tốt việc xác định mục tiêu và yêu cầu cần đạt của chương trình.
    2. Nên quy định số môn tối đa học sinh được chọn ở cấp THPT.
    3. Môn Vật lý:Đểdạy học tích hợp, các kiến thức cơ bản trong bộ môn Vật lý như: khái niệm, định lý, định luật, kí hiệu các đại lượng, đơn vị đo…cần phải được thống nhất từ lớp dưới lên lớp trên và ở các môn có liên quan như môn Toán. Hiện nay đang có tình trạng cùng một đại lượng vật lý nhưng ở THCS khác, ở chương trình chuẩn khác còn chương trình nâng cao lại khác nữa. Hoặc một số kiến thức ở môn Toán và môn Vật lý cũng chưa được thống nhất.
    4. Phụ huynh học sinh cũng chưa được chuẩn bị nhiều cho sự thay đổi sắp đến. Để đổi mới trong giáo dục không thể không thay đổi nhận thức của phụ huynh. Và cũng cần thống nhất rằng những lần cải cách/đổi mới vừa qua ít nhiều thiếu hiệu quả do đã xem nhẹ vai trò thay đổi nhận thức của phụ huynh.
    5. Cơ sở vật chất của nhà trường và đầu tư của gia đình/xã hội có đáp ứng được với yêu cầu của chương trình hay không?
    6. Khả năng đáp ứng của đội ngũ giáo viên và quản lý khi triển khai thực hiện chương trình là một câu hỏi cần trả lời.
    7. Chương trình có phù hợp với khả năng tiếp thu thực tế của phần lớn học sinh hay không?
    8.Các vấn đề của giáo dục phổ thông và chất lượng giáo viên/đội ngũ quản lý không thể thay đổi được chỉ dựa vào một vài khóa tập huấn.
    Nên bồi dưỡng theo các chuyên đề/học phần. Người học tự nghiên cứu, làm việc theo nhóm và báo cáo sản phẩm thu hoạch. Việc bồi dưỡng nên thực hiện trực tuyến, cấp chứng chỉ. Sau một thời gian nhất định nếu không đủ chứng chỉ thì bố trí công việc khác.
    9. Việc sử dụng cụm từ nề nếp có phần không đúng vì cụm từ này không có trong Tự điển. Nên dùng nền nếp thay vì nề nếp.
    10. Không nên dùng cụm từ bắt buộc trong nhóm các môn học vì không có tính sư phạm cao. Đề xuất sử dụng các cụm từ: Môn học phổ thông, môn học phổ thông có phân hóa, môn học tự chọn tối thiểu để thay thế cho các cụm từ môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn bắt buộc.
    11. Chương trình sẽ được cập nhật theo từng năm học, phù hợp với thực tiễn. Không nên để 5, 10 năm làm một lần: tốn kém, gây hoang mang dư luận, mất công sức của xã hội, không hiệu quả, chẳng thấy tổng kết, sơ kết gì cả.

    Hà Nội ngày 14 tháng 5 năm 2017
    Thái Sỹ Tăng

Ủng hộ bài viết này