Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Thực hiện công văn chỉ đạo số 1753/BGDĐT-VP ngày 28/4/2017 của Giáo sư Bộ trưởng, tôi xin góp một số ý kiến về Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thê và đề xuất chọn lọc một số vấn đề quan trọng cần tập trung chỉ đạo trong quá trình triển khai đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo. Bản góp ý được đề nghị gửi về Ban Quản lý Dự án hỗ trợ đổi mới giáo dục phổ thông trước ngày 15/5/2017. Tôi thấy đây là một nhiệm vụ rất quan trọng, rất nặng nề và không đơn giản, vì nó hệ trọng đến cả nền giáo dục – đào tạo, đến cả một thế hệ trẻ và công dân toàn cầu của Việt Nam trong tương lai, đòi hỏi phải tập trung rất nhiều thời gian nghiên cứu một cách công phu cả hệ thống chương trình giáo dục phổ thông trước đây và cả thực tiễn hoạt động trong giáo dục phổ thông. Tuy nhiên do thời gian rất ngắn, tài liệu lớn, đề cập đến chương trình tổng thể từ cấp Tiểu học đến Trung học phổ thông , không có tài liệu cũ để đối sánh, mà bản thân không được giao chuyên nghiên cứu sâu về nhiệm vụ này cho nên tôi chỉ góp những ý kiến mang tính chất sự việc từ nhận thức cá nhân, từ thông tin tiếp cận được trong hoạt động giáo dục và từ thực tiễn, chứ không theo thứ tự các câu hỏi đặt ra.

    I. góp ý cho bản Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
    1. Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã được chuẩn bị khá công phu, đã bám sát Nghị quyết số 29-NQ/TW của Đảng ngày 4/11/2013, Nghị quyết số 88/ 2014/ QH13 của Quốc hội và Nghị quyết số 44-NQ/CP của Chính phủ. Tinh thần của Nghị quyết đã được cụ thể hóa trong việc thiết kế dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể từ quan điểm, mục tiêu xây dựng chương trình, đến yêu cầu về phẩm chất và năng lực, kế hoạch giáo dục, định hướng về nội dung, Phuong pháp, điều kiện phát triển chương trình.

    2. Dự thảo nội dung chương trình lần này đã khắc phục được những nhược điểm của chương trình trước đây, đưa ra được nhiều nội dung mới, có triết lý, mục tiêu và nội dung cụ thể phù hợp với yêu cầu của công cuộc "Đổi mới giáo dục". Tuy nhiên theo tôi đối với chương trình giáo dục phổ thông thì phải đảm bảo được nguyên tắc cơ bản là: tính hệ thống, tính cơ bản và tính cụ thể của một nền giáo dục phổ thông; đảm bảo tính khoa học nhưng không quá hàn lâm, cần chú trọng tính thực tiễn, tính ứng dụng cao, phù hợp cho sự phát triển tự nhiên của từng lứa tuổi từ Tiểu học, Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông. Đây là một ưu điểm nổi trội trong một nền giáo dục. Nếu khi xây dựng chương trình giáo dục và thiết kế nội dung môn học mà quá tham vọng thì sẽ trái quy luật phát triển tự nhiên ở bậc giáo dục phổ thông, gây nên sự khó khăn rất lớn cho kết quả giáo dục và gây hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển thế hệ sau này, ảnh hưởng đến cả bậc giáo dục đại học. Theo kinh nghiệm của các nước thì hệ thống giáo dục phổ thông dù chỉ có một chương trình với một bộ sách giáo khoa, một chương trình với nhiều bộ sách giáo khoa hay nhiều chương trình với nhiều bộ sách giáo khoa (Hoa Kỳ) thì nội dung chương trình và nội dung môn học vẫn phải chỉ đảm bảo tính cơ bản, không trái quy luật phát triển tự nhiên của thế độ tuổi, không được quá tải, không đánh đố; bởi vì kiến thức khoa học công nghệ trên một đơn vị thời gian thì phát triển rất nhanh nhưng thời gian thực (real time) là không đổi. Nhìn vào định hướng về nội dung giáo dục của Dự thảo này thì thấy: tuy phần chi tiết còn phải cân nhắc và điều chỉnh ở một số môn, nhưng về nội dung chi tiết đáp ứng được yêu cầu đó. Chúng ta cũng cần nhớ lại một thực tế là chương trình giáo dục phổ thông và thiết kế nội dung môn học trước năm 1975 đã đảm bảo tính cơ bản và tính hệ thống rất cao. Rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giỏi, xuất sắc trong mọi lĩnh vực quản lý kinh tế, khoa học, giáo dục, an ninh quốc phòng đều được hưởng thụ nền giáo dục và chương trình giáo dục phổ thông trước năn 1975.

    3. Về năng lực chung và năng lực chuyên môn cần hình thành cho học sinh. Dự thảo chương trình giáo dục tổng thể cần tránh quá nhấn mạnh “phát triển năng lực” và coi nhẹ “truyền thụ kiến thức”. Năng lực là phạm trù khá trừu tượng như một “hộp đen”, còn kiến thức là những nội dung cụ thể của “đầu vào”“đầu ra”, trong đó “đầu vào” là giáo viên, sách giáo khoa, cơ sở vật chất; “đầu ra” là những gì học sinh có được, kiến thức, phẩm chất và kỹ năng. Trở lại với nó thì “Đầu ra” cũng là một trong những cấu phần để hình thành “năng lực”. Không có kiến thức thì không có năng lực nhưng “Kiến thức chưa phải là năng lực”. Khi có kiến thức rồi thì học sinh cần được nhúng vào môi trường thực tiễn và mỗi em mới thể hiện một năng lực khác nhau. Đương nhiên có kiến thức tốt thì mới có năng lực tốt. Gần đây có một số tranh luận về vấn đề này, song khi đọc Dự thảo chi tiết về kế hoạch giáo dục, định hướng về nội dung giáo dục, định hướng về phương pháp và đánh giá kết quả giáo dục thì cũng đã thấy rõ yêu cầu cụ thể về kiến thức các môn học mà học sinh các cấp cần đạt. Đúng là “Kiến thức chủ yếu giúp con người nhận thức thế giới. Còn năng lực mới trực tiếp giúp con người cải tạo thế giới”. Năng lực bổ trợ cho nguồn kiến thức trở nên phong phú và thực tế hơn. Năng lực ở đây còn là năng lực tự học và tư duy độc lập, năng lực đổi mới và sáng tạo, năng lực làm việc theo nhóm, năng lực chỉ đạo v.v…

    4. Về các Phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh, biểu hiện yêu cầu cần đạt về Phẩm chất của học sinh. Sáu nhóm Phẩm chất biểu hiện trong Dự thảo là khá toàn diện và cụ thể cho mỗi cấp học. Trong mỗi nhóm Phẩm chất lại có các tiêu chí, các chỉ báo. Tuy nhiên những hiện tượng “khiếm khuyết” của thế hệ thanh thiếu niên hiện nay ngày càng trở nên “đậm nét” trong xã hội, trong cơ chế thị trường thì trong 6 nhóm Phẩm chất của Dự thảo đã không được nhắc tới, đó là phẩm chất “vị tha, bao dung”. Phẩm chất này đã và sẽ tạo nên một xã hội “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một loài”. Muốn một xã hội tốt đẹp thì phẩm chất này phải “đeo bám” thường trực trong tâm hồn mỗi con người ở bất cứ chế độ nào,ở bất cứ cơ chế kinh tế nào. Vì vậy tôi xin đề xuất bổ sung nhóm Phẩm chất thứ 7 “Vị tha, bao dung”. Ban soạn thảo cần cụ thể hóa các tiêu chí, chỉ báo ơ nhóm này. Cũng có thể bổ sung phẩm chất này vào nhóm Phẩm chất thứ hai về “Yêu con người” thành một tiêu chí riêng (2.3), nhưng để thành một nhóm độc lập mới thấy được trọng lượng của Phẩm chất "vị tha, bao dung).

    5. Trong Nhóm thứ hai về Phẩm chẩm “Yêu con người” đề nghị bổ sung chỉ báo là “không hỗn xược, không nói tục, chửi bậy” vào Tiêu chí 2.1“Yêu quý mọi người” ở cấp Tiểu học. Rất đáng tiếc, hiện tượng xã hội này hiện nay khá phổ biến ở thanh niên, người lớn và đã xuất hiện ở tuổi thơ từ cấp Tiểu học, cho dù có một thực tế là trong nhà trường thầy, cô giáoluôn luôn giáo dục học sinh về phẩm chất này. Tuy nhiên tác động của gia đình và xã hội mạnh mẽ hơn khi đặt chỉ báo này như là trách nhiệm của mỗi người đã trưởng thành cần tham gia giáo dục thế hệ phổ thông và là đầu ra của giáo dục phẩm chất.

    6. Về định hướng nội dung giáo dục. Với 14 môn học , Dự thảo chương trình lần này không tập trung vào những môn học truyền thống như Toán, Lý, Hoá nhiều như trước mà đã thêm nhiều môn học mới như giáo dục Công nghệ, giáo dục Tin học, giáo dục Hướng nghiệp, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, chuyên đề học tập, nội dung giáo dục địa phương. Đi kèm với các môn học bao giờ cũng được phân chia hai giai đoạn” giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, hình thành kỹ năng và đổi mới phương pháp. Điều này sẽ tạo ra những kỹ năng, kiến thức, là tiền đề cần thiết cho các em trong giai đoạn số hóa, tự động hóa, internet vạn vật và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Nhiều môn học mới cần phải có thực hành, thí nghiệm để các em đam mê, làm quen, nâng cao kỹ năng. Nếu nhìn vào bảng tổng hợp kế hoạch giáo dục ở Tiểu học và Trung học cơ sở thì khó nhận chấp nhận và giải mã được thế nào là "Thế giới Công nghệ", "Nghệ thuật", "Hoạt động trải nghiệm sáng tạo"...Nhưng khi đọc kỹ ở các nhóm "Biểu hiện năng lực của học sinh" thì cũng có thể giải đáp được. Tuy nhiên ở nội dung môn 9."Giáo dục Công nghệ" chưa hình dung được lớp 1 sẽ học "Thế giới công nghệ" như thế nào khi mà các em còn chưa đủ vốn từ tiếng Việt, kể cả lớp 2 và lớp3. Tương tự như vậy cho "Tìm hiểu công nghệ" của lớp 4 và lớp 5, v.v... C húng ta phải tránh những vết đổ "quá tải" cho thế độ tuổi mà nhân dân đều kêu ca và trái quy luật phát triển tự nhiên. (Khi đang công tác ở nước ngoài và công tác ở ngành, chúng tôi cũng có dịp thăm một số trường Tiểu học, quả là chương trình học của họ làm cho học sinh "mỗi ngày đến trường là một niềm vui, là một lần hạnh phúc". Làm sao để các em nhỏ Tiểu học chưa đến giờ đi học mà đã đòi bố mẹ cho đến lớp!

    7. Về giáo dục khoa học xã hôi, kể cả ở môn học và nhóm năng lực . Đây là một lĩnh vực giáo dục rất khó, cần tập trung nhiều công sức thảo luận kỹ hơn. Những nhà Xã hội học chưa hẳn đã đủ để xây dựng hoàn hảo yêu cầu nội dung này mà phải có sự tham gia của các nhà khoa học tự nhiên, kỹ thuật công nghệ. Ở đây một số nội dung yêu cầu hơi cao, hơi cứng, mang tính giáo huấn chứ không phải giáo dục như : “ Đối thoại liên văn hóa,… năng lưc tư duy và thực hành khoa học xã hội và nhân văn,…. Năng lực kiến giải hiện tượng và quá trình xã hội cụ thể”. Trong khi đó lại thiếu nội dung kết nối giữa con người với thiên nhiên. Chính điều này sẽ giáo dục cho học sinh tình yêu đất nước một cách rất tự nhiên. Làm cho con người được "khai phóng" cả trong tinh thần lẫn thể xác, v.v...

    8. Trong nhóm 6 “Năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội” , tại tiêu chí 6.1.2 “Tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên” cần bổ sung chỉ báo “Tìm hiểu và nhận thức được những thách thức về biến đổi khí hậu” ở cấp Trung học phổ thông. Hiện nay nguy cơ thiên tai rất lớn đối với đất nước ta do nguy cơ của "Biến đổi khí hậu", đặc biệt là đồng bằng Sông Cửu Long và vùng ven biển, miền núi của cả nước. Trách nhiệm nhận thức này phải từ lớp Tiểu học trở lên, không những để tránh thiệt hại về vật chất mà cả về tính mạng như lâu nay học sinh hay bị tai nạn sông nước...

    9. Trong nhóm 3 “Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo”. Ở đây cần bổ sung thêm Tiêu chí 3.7 “Năng lực thích ứng và thay đổi”. Đây là năng lực rất cần thiết ở học sinh ở bậc phổ thông. Ở các nước trọng số để đánh giá năng lực này rất cao và học sinh thường phải trải qua kỳ thi vấn đáp những câu hỏi để thể hiện năng lực này. ( Các ứng cử viên tổng thống các nước phương Tây thường cam kết khi vận động tranh cử “Change we need”). Trong nhóm năng lực này cũng cần thêm Tiêu chí 3.8 Phát huy tự do sáng tạo và tự do chính kiến từ khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường nhằm góp phần nhận thức giá trị của “con người tự do”, biết quyền tự do của chính mình và tôn trọng quyền tự do của người khác. Chính sự tự do sẽ thúc đẩy sáng tạo, tự tin và phát triển năng lực;

    10. Đối với “Giáo dục nghệ thuật, các môn Âm nhạc và Mỹ thuật cần được đưa vào học sớm hơn lớp 11 và lớp 12. Trong khi môn ngoại ngữ 2 là môn hoc tự chọn không nên bắt đầu học từ lớp 6 bởi vì khi học sinh chưa được trang bị tiếng Việt đủ vốn kiến thức; ngoại ngữ 1 đang chưa vững vàng thì học thêm ngoại ngữ 2 sẽ là một khối lượng tải quá lớn, gây nên những lỗ hổng cơ bản, thậm chí cho cả những em có năng khiếu về ngoại ngữ. Ngoại ngữ 2 chỉ nên bắt đầu từ cấp Trung học phổ thông. Ở một số nước, ngoại ngữ 2 bắt đầu từ giáo dục đại học. Không nên để phần học bắt buộc quá nhiều ở lớp 12 mà nên tăng các môn tự chọn, vì các em bắt đầu phát triển sở trường năng khiếu và có các nguyện vọng cá nhân hợp với lứa tuổi.

    11. Trong Dự thảo nội dung yêu cầu đối với học sinh Tiểu học việc đòi hỏi ngay một số năng lực quá cao và đưa vào nhiều môn quá, ví dụ như năng lực công nghệ. Dạy Tiểu học chỉ là dạy những cái cơ bản nhất; rèn cho học sinh đọc thông viết thạo tiếng Việt, làm thông thạo các phép tính; không nên đưa vào các môn học tự chọn bởi vì quá sức đối với các em. Ở lứa tuổi này các em chưa đủ tự tin và khả năng để tự chọn (thế giới công nghệ, nội dung giáo dục địa phương).

    12. Trong các cấp học ở phổ thông thì xây dựng chương trình và sách giáo khoa cho cấp Tiểu học là khó khăn nhất. Cấp này giống như là làm móng để chuẩn bị xây nhà. Nếu vào trang mạng "Young Children Curriculum" thì có hàng ngàn tài liệu. Tuy nhiên rất đáng tiếc, trong phần "B. Tài liệu tham khảo tiếng Anh" trang 54 không hề có nêu 1 tài liệu nào cho cấp Tiểu học. (và cả các cấp học khác cũng hiếm hoi).

    13. Về nhóm thứ 7 "Năng lực công nghệ". Yêu cầu kiến thức của các cấp học ở đây cũng đã đề cập khá chi tiết. Tuy nhiên cần nêu rõ vai trò của STEM của 3 cấp học như một khối kiến thức hợp nhất hoàn chỉnh, chủ yếu là kiến thức thuộc các môn khoa học tự nhiên: "Cuộc sống quanh ta", "Tìm hiểu tự nhiên", "Thế giới công nghệ", "Tìm hiểu công nghệ", "Khoa học tự nhiên", "Công nghệ", "Vật lí", "Hóa học", "Sinh học", "Thiết kế và Công nghệ". Những kiến thức khoa của các môn học này đều có ứng dụng phổ biến trong thực tiễn, vì vậy việc áp dụng phương thức giáo dục STEM sẽ rất thuận lợi và mang lại hiệu quả cao đối với sự phát triển năng lực của học sinh.

    14. Việc thiết kế và triển khai chương trình giáo dục phổ thông tổng thể cho thời gian học 2 buổi/ ngày là khó khả thi cho rất nhiều trường vì sự hạn chế về đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất. Cần chú ý khó khăn thực tế là: hiện nay có những trường phải bố trí lớp 50-60 học sinh/lớp, vậy làm sao để bố trí học 2 buổi/ngày?. Như vậy chương trình có cần thiết kế cho dạy học 1 buổi / ngày và 2 buổi/ngày riêng biệt? Có khả thi không khi ?

    15. Chương trình mới không thể dạy chay như trước, vì các môn công nghệ kỹ thuật phải có thực hành, thí nghiệm để các em đam mê, làm quen. Vì vậy các trường trung học phổ thông sẽ gặp rất nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, từ việc xây mới phòng ốc, đầu tư thiết bị sao cho hiệu quả, cho tới người sử dụng thiết bị, nếu không cân nhắc lường trước sẽ dẫn tới lãng phí, không hiệu quả.

    16. Nếu năm 2018 đã thực hiện ngay chương trình mới thìkhông kịp về thời gian và không đảm bảo chất lượng. Cần có thời gian đào tạo giáo viên giảng dạy các môn mới, giáo viên giảng dạy thực nghiệm, tổ chức việc viết và in sách, làm học liệu, thẩm định sách, đổi mới công tác tổ chức và cách quản lý, chuẩn bị hạ tầng, thiết bị. Việc học hai buổi và một buổi khác nhau nhiều về yêu cầu hạ tầng. Như vậy cần một hệ thống thay đổi rất lớn. Kinh nghiệm in sách giáo khoa trước đây, mỗi năm in cuốn chiếu cho từng lớp học (tuy lúc đó làm không đồng bộ), nhưng vì đã gây ra bao nhiêu sai sót, bức xúc trong xã hội. Sau đó đã phải điều chỉnh, "chữa cháy".

    17. Về phương pháp, muốn giúp học sinh phát triển năng lực thì phải chú trọng hướng dẫn cách học, hướng dẫn cách phân tích và tổng hợp, khuyến khích tự học, biết cách tự tìm tư liệu, biết sử dụng thư viện, truy cập thông tin, biết sử dụng thành thạo các công cụ, nhất là tin học, vi tính và ngoại ngữ. Khuyến khích tư duy độc lập, tư duy phản biện, có chính kiến riêng, biết bảo vệ chính kiến và biết lắng nghe để tiếp thu và điều chỉnh, tổ chức cho học sinh thảo luận, làm việc nhóm, khảo nghiệm, thực nghiệm, dự tọa đàm, đi tham quan bảo tàng, tham gia công việc nghiên cứu khoa học, trải nghiệm để sáng tạo...Tổ chức khối lượng công việc đồ sộ như thế này đòi hỏi phải thay đổi cơ bản về công tác tổ chức, công tác quản lý, công tác chuẩn bị … của một trường phổ thông.
    18.Tôi thống nhất với định hướng đánh giá về kết quả giáo dục. Điều đổi mới nhất là "Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông" chứ không cần thi tốt nghiệp THPT. Tuy nhiên ở cấp Trung học phổ thông cần nhấn mạnh về chỉ số đánh giá về hoạt động xã hội của học sinh thông qua các bài luận về các hoạt động thực tiễn, công tác từ thiện, công tác xã hội khác. Đây là đòi hỏi bắt buộc ở một số kỳ thi tuyển vào đại học của một số cơ sở giáo dục đại học của nhiều nước.

    19. Suy nghĩ thêm của cá nhân về Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Chương trình giáo dục phổ thông mới được thiết kế để đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội, xây dựng công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Nguồn nhân lực này phải thich ứng được cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (phục vụ số hoá, tự động hoá, internet vạn vật...). Nếu chúng ta coi công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục-đào tạo lần này là phiên bản 4.0 thì hệ thống giáo dục quốc gia có thể được mô hình hóa như một hệ thống tự động hoá với đầu vào là một loạt thông số: đội ngũ nhà giáo, chương trình, sách giáo khoa, cơ sở vật chất... Đầu ra là kiến thức, phẩm chất, năng lực của học sinh. Vậy bộ vi xử lý nằm giữa đầu vào và đầu ra ở đây là gì? Phải chăng đó là cơ chế, chính sách, là sự lãnh đạo, là quản ký, quản trị giáo dục… Trong trường hợp đầu ra (kiến thức, phẩm chất, năng lực học sinh) không đạt yêu cầu thì thông qua mạch phản hồi cần phải điều chỉnh mới các thông số của bộ vi xử lý (cơ chế, chính sách, năng lục quản lý, lãnh đạo, quản trị...). Có như vậy thì chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới phù hợp với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 bắt đầu diễn ra cho đến khi hoàn thành sứ mạng của nó để chuyển sang một cuộc cách mạng công nghiệp mới.

    II. Đề xuất chọn lọc một số vấn đề quan trọng cần tập trung chỉ đạo trong quá trình triển khai đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo
    1. Vấn đề tự chủ của các cơ sở giáo dục. Trong vài ba năm tới cần tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách, văn bản pháp quy cho vấn đề tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học. Cần xây dựng và lựa chọn có lộ trình các tiêu chí cho sự tự chủ (tham khảo châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc.... Ví dụ, hệ thống giáo dục đại học châu Âu phân ra 4 lĩnh vực về tự chủ: Tự chủ về tổ chức có 7 tiêu chí; tự chủ tài chính có 11 tiêu chí; tự chủ về đội ngũ có 8 tiêu chí; tự chủ về học thuật có 12 tiêu chí).

    2. Kiểm định chất lượng giáo dục và hội nhập quốc tế. Trước mắt tập trung triển khai kiểm định ở các cơ sở giáo dục đại học. Song song với việc kiểm định theo hệ thống tiêu chuẩn quốc tế, các chương trình đào tạo được kiểm định theo Bộ Tiêu chuẩn AUN, ABBET... thì tất cả các trường đh VN phải được ưu tiên kiểm định trường bằng Bộ tiêu chuẩn kiểm định của VN. Lý do: bộ Tiêu chuẩn xây dựng phù hợp với thực trạng giáo dục VN; việc cải tiến chất lượng thực tiễn và khả thi hơn; các chuyên gia VN dễ biết "ngóc ngách" và phát hiện ra, "phơi" ra các điểm yếu của các Tiêu chí của các trường VN. (Chuyên gia nước ngoài không thể làm được việc này). Qua thực tiễn kiểm định đã có một sự chuyển động mạnh mẽ về “Văn hóa chất lượng” trong các trường đại học, đạ biệt là trong đội ngũ cán bộ, giảng viên; Bộ Tiêu chuẩn “vừa sức” hiện tại cho Việt nam. Cần kéo dài thêm 1 năm để tất cả các trường VN hoàn thành công tác kiểm định trường được 1 vòng. Có chế tài đối với các trường không tham gia hoặc không đủ điều kiện tham gia hoặc kiểm định không đạt chất lượng.

    3. Ổn định công tác tuyển sinh đại học và tốt nghiệp THPT. Gắn chỉ tiêu tuyển sinh với điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo. Cân bằng cơ cấu ngành nghề đào tạo hợp lý phù hợp với nền kinh tế quốc dân và nhu cầu xã hội. Vấn đè này cần có Hội thảo và bàn kỹ. Cần dứt điểm trong 2 năm.

    4. Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và chương trình giáo dục đại học. Tập trung chỉ đạo đổi mới chương trình giáo dục phổ thông chỉnh thể. Xây dựng chương trình tổng thể giáo dục phổ thông theo hướng đảm bảo tính thống nhất, tính cơ bản và tính ổn định lâu dài. Nhà nước tập trung chỉ đạo ở những khâu cốt lõi. Đối với chương trình giaos dục đại học, việc đổi mới giao cho các cơ sở tự chủ triển khai theo sứ mạng, tầm nhìn và mục tiêu của từng trường; đảm bảo tính đa dạng và chuyên sâu; phân tầng hướng đào tạo; Nhà nước hỗ trợ một số điều kiện nguồn lực theo đề án cam kết và phân cho từng giai đoạn.

    5. Xây dựng và triển khai đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Nguồn nhân lực này cần lựa chọn trực tiếp phục vụ phát triển các ngành kinh tế ưu tiên, trọng điểm của quốc gia cho cả định hướng nghiên cứu và định hướng ứng dụng trên cơ sở hợp tác quốc tế, bằng công tác trao đổi và du nhập mạnh mẽ hệ thống chương trình tiên tiến gốc của các nước.

    6. Đổi mới công tác NCKH- Chuyển giao công nghệ. Tập trung NCKH vào những định hướng lớn của quốc gia; triển khai nckh ứng dụng ở các trường liên kết với các doanh nghiệp. Mục tiêu của nckh ứng dụng là phải có các sản phẩm ứng dụng với công nghệ cao hơn hoặc ngang bằng với các nước tiên tiến. Cần tạo các chuyển biến và đổi mới cơ bản trong nghiên cứu khoa học giáo dục cả lý luận và thực tiễn, góp phần phát triển nền giáo dục và đào tạo của Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại và hội nhập quốc tế. Làm việc với Bộ KHCN, Bộ Tài Chính, Bộ KHĐT và Chính phủ để được giao thị phần tài chính cho NCKH tương tương ứng với đội ngũ các nhà KH trong các trường ĐH.

    7. Tạo cơ chế chính sách cho các cơ sở GDĐH có nguồn thu hợp pháp ở mức tối đa. Các doanh nghiệp phải dành cho giáo dục đại học các nguồn tài chính cho nghiên cứu ứng dụng. Các trường ĐH phải dành tối thiểu 5% từ nguồn thu sự nghiệp cho giảng viên làm nckh và 3% nguồn thu sự nghiệp cho người học ( ncs, cao học, sinh viên) làm nckh theo Nghị định 99 của Chính phủ. Các trường được phép dùng hoặc chuyển đổi cơ sở vật chất để làm kinh doanh, dịch vụ để tăng nguồn thu tài chính cho trường.

    8. Thống nhất hệ thống đào tạo nguồn nhân lực quốc gia; thống nhất quản lý Nhà nước giáo dục và đào tạo về một cơ quan duy nhất. Chuẩn bị tái cấu trúc hệ thống giáo dục quốc dân và hệ thống đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của toàn bộ hệ thống.

    Trân trọng
    Bành Tiến Long

Ủng hộ bài viết này