Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Kính gửi: GS.TS. Phùng Xuân Nhạ - Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

    Cách đây 2 ngày, tôi có nhận được công văn số 1728/BGDĐT –VP do Bộ trưởng ký, nội dung là vấn đề góp ý Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và đề xuất những vấn đề cần quan tâm chỉ đạo về Giáo dục, Đào tạo. Trong Bản Đề cương lấy ý kiến đóng góp cho Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể có 3 loại nội dung cơ bản: 1) Những vấn đề chung (8 câu hỏi lớn); 2) Kế hoạch giáo dục (7 câu hỏi lớn) và 3) Định hướng đánh giá kết quả giáo dục. Ngoài ra còn 6 vấn đề về điều kiện thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông. Đây toàn là những nội dung lớn, cần có kiến thức chuyên môn sâu và tổng hợp thì may ra mới đáp ứng được yêu cầu của Bộ trưởng.
    Tuy nhiên, với ý thức của người đã vào nghề gần 65 năm qua, nay vẫn đang làm nhiệm vụ đào tạo trực tiếp đối với thế hệ trẻ, tôi thấy mình có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp xây dựng giáo dục nước nhà. Nếu có gì chưa chuẩn xác, chưa đúng, xin Bộ trưởng lượng thứ.

    I. Về quan niệm chung với Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (Tuyên ngôn lớn, thực tiễn nhỏ, thiếu chuẩn xác lý luận)
    Việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tại Nghị quyết 29-NQ/HNTW của Đảng và Quyết định 44/2014/QĐ-CP, về cơ bản, các chuyên gia đã có sự tiếp cận nghiêm túc và cũng đã cố vận dụng những quan điểm đó vào cuộc sống, vào giáo dục phổ thông.
    Tuy nhiên, giữa Tuyên ngôn (trong quan điểm xây dựng chương trình phổ thông) với nội dung chương trình tổng thể, hình như thiếu sự ăn ý và thống nhất: Tuyên ngôn mang tính chất “đại ngôn”, còn thực tế thì rất mờ. Chẳng hạn, khi tuyên bố quyền được tôn trọng và lắng nghe, quyền tham gia của học sinh đã được in rõ thì không có một tổng kết nào về ý kiến học sinh trong nhiều năm qua trước những chương trình đã được đưa ra để đón nhận ý kiến đóng góp về phía xã hội, nhất là về phía học sinh với tư cách là nhân vật được thụ hưởng chương trình.
    Về lý luận cơ bản trong khoa học giáo dục, có những vấn đề ghi trong các văn bản chính thức không chuẩn xác, và do đó, khi xây dựng chương trình, các chuyên gia đã “không chuẩn” trong ý tưởng và quan niệm.
    Ví dụ mệnh đề “góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh” (trích nghị quyết 88/2014/QH13). Xin mạn phép nói thế này:

    1. Một nền giáo dục coi nhẹ truyền thụ kiến thức thì truyền thụ cái gì? Sứ mạng của giáo dục là đem lại cho con người những kiến thức, những kỹ năng thái độ sử dụng những kiến thức, vận dụng kỹ năng. Về phương diện triết học, người ta nói khái quát là Giáo dục truyền thụ những kinh nghiệm xã hội – lịch sử của loài người đến người học, giúp người học biến những kinh nghiệm xã hội – lịch sử đó thành kinh nghiệm cá nhân. Kinh nghiệm xã hội – lịch sử được kết tinh trong hệ thống kiến thức và những kỹ năng. Vậy, sứ mạng của giáo dục là mang lại cho con người sự hiểu biết (kiến thức) và việc sử dụng kiến thức vào cải tạo thế giới, cải tạo xã hội, cải tạo con người (kỹ năng). Sao lại phê phán giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức. Đáng ra là phải phê phán lối giáo dục lý thuyết suông mới đúng.
    - Định hướng phát triển năng lực con người là đúng. Theo luận điểm triết học của Karl Marx, con người là một hệ thống những năng lực – những năng lực thể chất và những năng lực tinh thần. Chính từ luận điểm này, trong bức thư của Hồ Chí Minh gửi học sinh nhân dịp khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Người viết rằng: “Rồi đây các cháu sẽ được hưởng một nền giáo dục mới – một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các cháu”.
    Gần 80 năm trôi qua, bây giờ các chuyên gia mới ghi được một cụm từ phát triển năng lực vào mục tiêu giáo dục, mà hình như là lấy từ chương trình nước ngoài. Hiện tượng này làm người ta nghĩ gì đến công tác lý luận. Nhiều hội thảo về mục tiêu giáo dục, tôi và một số bạn lên tiếng về vấn đề này, nhưng đều bị bỏ qua.
    Phải có kiến thức và kỹ năng trước thì mới hình thành được năng lực. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu Học đi đôi với Hành, điều kiện cơ bản và là biểu hiện cụ thể của năng lực.
    Giáo dục phải thực hiện 4 chữ H của Hồ Chí Minh:
    HỌC – HỎI – HIỂU – HÀNH
    Chương trình này chỉ thấy Học, không rõ vấn đề Hành. Đó là điểm yếu (Hành trong trường phổ thông là hành trong vườn trường, trong ao cá, trại chăn nuôi, trên đồng ruộng, phòng thí nghiệm. Trong chương trình không có vấn đề này).

    2. Chương trình này không có ý nào thể hiện nó là một chương trình thuộc kế hoạch xây dựng một mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập. Hình như chương trình này vẫn đóng khuôn trong 4 bức tường của nhà trường phổ thông. Cho dù có tuyên bố học sinh phải trải nghiệm sáng tạo, phải thực hành nhiều nhưng nhà trường qua bóng dáng của chương trình tổng thể vẫn là nhà trường đóng các cửa đi vào đời sống xã hội, không có lối cho học sinh gắn học hành với hệ thống sản xuất ở xí nghiệp, doanh nghiệp, công trường, đồng ruộng. Với kiểu chương trình này, khi học đến lớp 12, có học sinh vẫn chưa sờ lên vai con trâu, vẫn không hiểu sau cánh cổng đi vào nhà máy kia, công nhân đang làm việc thế nào, môi trường ao hồ, không khí, đất đai bị ô nhiễm ra sao…

    3. Chương trình tuyên bố dạy học phân hóa, phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông, nhưng phân luồng là gì thì may ra có thể giải thích được, còn phân luồng bằng cách nào, đến nay Bộ vẫn bó tay. Cách đây một tháng, Thứ trưởng Nguyễn Thị Nghĩa đã duyệt Đề tài “Phân luồng học sinh trung học cơ sở”, giao cho Viện Khoa học giáo dục chủ trì Đề tài này. Phải nói rằng, chúng ta thất bại về phân luồng hàng chục năm vì thời gian qua, càng nói đến phân luồng thì học sinh học xong phổ thông càng đổ về trường đại học. Giờ đây phân luồng trong khi Đề tài phân luồng mới được Bộ duyệt tháng trước. Vậy, triển khai phân luồng học sinh khi chưa tìm ra giải pháp mới (vì Đề tài chưa triển khai) thì liệu chương trình có tính thực thi hay không.
    Hiện nay, hệ thống Trường Dạy nghề do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội quản lý. Ở hệ thống đó, các trường dạy nghề thuộc về hệ Trung cấp, còn ở hệ thống giáo dục phổ thông, nhà trường có trình độ đào tạo tương đương lại được gọi là hệ Trung học.
    Một Dự án của Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa đưa sang Bộ Tư pháp để thẩm định về tính chất luật định của phân luồng. Trong Dự án này, nếu học sinh học Trung cấp nghề mà muốn vào Đại học thì phải có giấy chứng nhận có trình độ Trung học phổ thông. Vậy thì, quy định này sẽ gợi ý cho học sinh học theo hệ Trung học phổ thông, việc gì phải vào học Trung cấp nghề rồi học thêm để có trình độ tương đương trung học phổ thông. Tình trạng này sẽ dẫn đến việc thu hút học sinh phổ thông và hệ quả tất yếu là, khi có mảnh bằng Trung học phổ thông rồi sẽ thi vào Đại học. Chỉ khi không trúng tuyển đại học, các em sẽ đành phải đi học nghề.
    Như thế, chúng ta lại một lần nữa thất bại trong việc chủ trương phân luồng.
    Tôi tìm mãi xem Chương trình cấu trúc như thế nào để phân luồng học sinh, để phổ thông liên thông với dạy nghề, nhưng không thấy điều này ở chỗ nào.

    4. Chương trình tuyên bố rằng, phải liên thông với chương trình giáo dục đại học. Ý tưởng này hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, đi vào cụ thể, người đọc chưa hình dung được những nội dung nào cần có để giáo dục Trung học phổ thông chuẩn bị cho học sinh đi vào các loại hình đại học – đại học hàn lâm, đại học kỹ thuật và công nghệ, đại học văn hóa – nghệ thuật.v.v…
    Ở đây có một vấn đề đặt ra.
    “Chương trình giáo dục phổ thông định hướng cho sự phát triển giáo dục đại học, hay chương trình giáo dục đại học quy định những kiến thức, kỹ năng cơ bản mà trường phổ thông phải chuẩn bị để học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông sẽ thuận lợi cho việc tiếp cận giáo dục đại học ngay từ những ngày đầu?”.
    Tôi hiểu là phải theo hướng thứ hai bởi:
    Giáo dục phổ thông trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng, thái độ tối thiểu và cần thiết đối với toàn bộ cư dân trong cả nước. Ý nghĩa “phổ thông” là ở chỗ đó. Căn cứ vào yêu cầu đào tạo ở hệ đại học mà chọn những kiến thức, kỹ năng để tiếp thu kiến thức, kỹ năng sẽ được truyền thụ ở đại học. Đưa kiến thức đại học vào chương trình phổ thông dưới nhiều hình thức sẽ gây nên sự quá tải ở học sinh, làm cho học sinh phổ thông mệt mỏi, căng thẳng bởi phải học thêm mới tiêu thụ những gì mà ở giai đoạn học đại học họ mới động chạm đến.
    Giáo dục phổ thông mang tính chất phổ thông – kiến thức và kỹ năng do chương trình phổ thông cung cấp là những gì cần làm nền tảng cho việc học ở đại học. Hãy để trường Đại học tự chủ tuyển chọn học sinh tốt nghiệp phổ thông, tự chủ về học thuyết và cách thức đào tạo riêng của họ. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể liên thông với giáo dục đại học là như vậy, không phải là thi tốt nghiệp phổ thông rồi bắt trường đại học chấp nhận điểm thi đó để tuyển sinh. Nói cách khác, sự liên thông phổ thông – đại học là sự phù hợp và tiếp nối hợp lý những kiến thức và kỹ năng giữa 2 hệ, chứ không phải là sự quy định điểm thi tốt nghiệp phổ thông.
    Tôi thấy chương trình giáo dục phổ thông tổng thể lần này vẫn có xu hướng tham đưa kiến thức khó (không phổ thông) vào nội dung các môn học và sẽ lại dùng phương pháp nhồi nhét đứa trẻ không ít kiến thức sẽ không dùng đến.
    Nhồi nhét kiến thức cho trẻ là sai lầm, nó không làm cho chất lượng giáo dục phổ thông tốt hơn, mà chỉ làm cho học sinh phổ thông mỏi mệt, chán học, mất động lực học đại học.
    Cũng cần nói rằng, chính đại học mới là nơi đào tạo nguồn nhân lực đủ năng lực tăng sức cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế. Trường phổ thông không có mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực mà là chuẩn bị điều kiện, chuẩn bị nền tảng cho hệ đại học đào tạo nguồn nhân lực.
    Trường phổ thông, chương trình phổ thông có mục tiêu hình thành và phát triển NHÂN CÁCH và đây là nguyên liệu cơ bản để xây nên tòa nhà NHÂN LỰC. Rất đáng tiếc là ngay từ lời mở đầy của chương trình (tr.3) chỉ có lời tuyên bố đến việc chuẩn bị nguồn nhân lực (tức là cho cộng đồng người) mà quên nói đến giáo dục hình thành và phát triển Nhân cách, tức là giáo dục đến với MỖI CON NGƯỜI.

    II. Mấy nhận xét cụ thể vào nội dung chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
    Tôi không đủ thời gian phân tích các ưu điểm của chương trình này. Chỉ xin khái quát một điều: Các chuyên gia (trong đó có nhiều bạn thân của tôi và những đồng nghiệp mà tôi yêu quý) đã cố gắng tìm tòi, thiết kế một chương trình có tính chất mới, tính khoa học hơn so với những chương trình trước đã từng được đưa ra lấy ý kiến. Điều này ai cũng thấy rõ và trân trọng.
    Tôi chỉ đi vào những gì cần lưu ý.

    1. Chương trình này vẫn hao hao chương trình trước đây; thể hiện rõ nhất là ở quan điểm chỉ đạo xây dựng chương trình, việc bảo lưu tên những môn học, sự lý giải một số vấn đề và giải thích vấn đề (giải thích sai từ lần trước, nhưng lần này vẫn giữ nguyên cách giải thích).v.v…
    Cái ấn tượng của tôi về chương trình này có thể được tóm tắt như sau:
    - Người lớn hóa thế hệ trẻ, đòi hỏi ở trẻ nhiều điều mà chính người lớn cũng khó có thể thực hiện.
    - Phức tạp hóa nội dung giáo dục và giảng dạy thế hệ trẻ, làm cho nhiều vấn đề vốn đơn giản thành khó thực hiện.
    - Kỳ vọng quá lớn nhưng điều kiện thực thi lại rất hạn chế.
    - Đại học hóa chương trình giáo dục phổ thông.
    - Tầm thường hóa công tác nghiên cứu khoa học.
    - Tuy tuyên bố định hướng phát triển năng lực người học nhưng chương trình nặng về nhồi nhét kiến thức, tăng áp lực lên trí nhớ và vẫn xa lánh quan hệ Học – Hành.
    - Muốn hướng nghiệp, nhưng chương trình lại là hướng ngành, coi nhẹ giáo dục lao động, con đường liên thông từ học đường sang lao động xã hội không được mở ra, tinh thần thực học, thực nghiệp, hướng nghiệp, khởi nghiệp rất mờ nhạt.

    2. Đòi hỏi quá cao đối với việc học của trẻ em
    a. Đề nghị bỏ các môn học tự chọn ở Tiểu học. Một đứa trẻ 6 – 10 tuổi hiểu gì về các môn học mà tự chọn nội dung cần cho mình (nội dung giáo dục địa phương). Bọn trẻ này chưa có tầm nhìn ra ngoài làng xã của nó, biết địa phương có vấn đề nào nó cần được biết. Có lẽ, chúng phải nhờ cha mẹ chọn.
    b. Bỏ môn Thế giới công nghệ ở Tiểu học. Với trình độ “chưa sạch nước cản” về 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia thì hiểu sao một công nghệ, hơn nữa lại là Thế giới công nghệ. Mà, các nhà soạn chương trình có hiểu đầy đủ về thế giới công nghệ hiện đại hay không? Nếu không hiểu thì chọn kiến thức, kỹ năng gì từ cái thế giới công nghệ bao la này, nhất là cái thế giới công nghệ do Industry 4.0 đang tạo ra, để đưa vào chương trình.
    Ở cấp trung học cơ sở, nên dạy cho trẻ em về kỹ thuật sản xuất, làm quen với các kỹ thuật (với những công cụ, thiết bị cần thiết hàng ngày), liên quan tới nghề nghiệp và các gia đình đang làm: kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, kỹ thuật sản xuất công nghiệp, kỹ thuật xây dựng.v.v… Thông qua dạy kỹ thuật với các công cụ, thiết bị hiện đại mà trên thực tế đang sử dụng mà truyền đạt tinh thần công nghệ (các quy trình đổi mới sản phẩm trên cơ sở sử dụng kỹ thuật để làm ra hàng hóa có thương hiệu), tinh thần khởi nghiệp.v.v…
    Nên giảng dạy công nghệ thông qua kỹ thuật, nghĩa là đứng trên những nguyên lý cơ bản của việc tìm ra những phương pháp nhằm sáng chế, phát minh, tức là tìm ra các Know – how (gần như xưa dạy theo tinh thần kỹ thuật tổng hợp), đặc biệt là gợi ý khởi nghiệp (tìm ra công việc mới) và lập nghiệp (tạo việc làm, tạo nghề cho bản thân).

    3. Bỏ yêu cầu viết chuyên đề học tập khi học môn tự chọn ở lớp 11 và 12. Mỗi chuyên đề được dành 15 tiết. Nếu mỗi tiết là 45 phút thì 15 tiết viết chuyên đề có 675 phút, tức là 11h05. Thì giờ này chưa đủ để sao chép một vấn đề nào đó, có gì đáng gọi là một hoạt động học tập mang tính độc lập nghiên cứu.

    4. Rà soát lại những định hướng nội dung giáo dục, bỏ đi những yêu cầu không cần thiết, những đòi hỏi không thực tế, đề ra mà không làm được hoặc không cần đặt ra ở trường phổ thông.
    Vấn đề này quá nhiều, tôi chỉ nêu làm ví dụ:
    Về dạy tin học, ở Tiểu học thì chỉ cần cho các cháu biết một số phần mềm đơn giản để qua đó giúp các cháu khai thác một số kiến thức mới theo hướng dẫn của giáo viên. Với những nơi có máy tính bảng, giúp các cháu dùng máy tính thay cho sách vở, không việc gì phải dạy về nguyên tắc bảo vệ, giữ gìn sức khỏe khi sử dụng thiết bị tin học.
    Ở các lớp Trung học cơ sở, việc sử dụng máy tính là để phục vụ việc học trên lớp và tự học ở nhà, chưa nên tính đến việc chia sẻ thông tin, hợp tác trong bối cảnh kinh tế tri thức.
    Ở Trung học phổ thông, có cần phải đi vào khoa học máy tính hay không? Hình như với sinh viên các khoa học xã hội, khoa học sư phạm…., người ta cũng chỉ cần biết sử dụng máy tính để phục vụ học tập, nghiên cứu khoa học chứ không đi vào khoa học máy tính.
    Về giáo dục nghệ thuật: Nói thì to như vậy, nhưng thực chất là dạy Nhạc và Hát, dạy Vẽ và một số bài Thủ công. Dùng thuật ngữ “giáo dục nghệ thuật” là không đúng với nghĩa của lĩnh vực lớn lao, đòi hỏi quá trình đào tạo hết sức công phu và tốn kém.
    Với trẻ em, ca hát, nghe nhạc, tập xướng âm, tập nhảy có nhịp điệu theo máy chơi nhạc thì được. Còn đặt ra là chơi các nhạc cụ (không có trường nào đủ nhạc cụ dạy trong trường phổ thông) và sáng tạo âm nhạc thì theo tôi, là ảo tưởng. Giỏi lắm, thầy cô giáo dạy hát và giúp học sinh tập xướng âm cũng chỉ nắm phần nào nhạc lý, có kỹ năng giúp học sinh hát đúng, nhảy đúng thôi. Họ không phải là người có tác phẩm do họ sáng tạo nên dạy sáng tạo âm nhạc làm sao được.
    Hơn nữa, sáng tạo âm nhạc phụ thuộc tâm hồn con người. Không đủ trình độ thể hiện sự rung động của tâm hồn qua nốt nhạc thì sáng tạo là điều mong muốn mà thôi.
    Ở Trung học phổ thông, giáo dục âm nhạc để hát tập thể thật đều và đúng đã khó, làm sao mà động tới yêu cầu về hợp xướng, hòa tấu nhạc cụ, khiêu vũ, sáng tác. Việc này chỉ có các nhóm nhỏ cùng sở thích, tổ chức tập luyện cùng nhau thì được, tức là xuất hiện một nhóm thể dục nhịp điệu, nhóm ghi – ta, nhóm chơi organ.v.v…, chứ không thể có hợp xướng (phối âm, phối khí, phân bè hát…), hoặc biểu diễn nhạc cụ (đàn giây, đàn hơi, kèn, sáo, bộ gõ…) của cả lớp (tức là của giáo dục âm nhạc do thầy, cô làm nên).
    Về giáo dục quốc phòng và an ninh, cá nhân tôi cho rằng, không nên có môn học này trong trường phổ thông. Quốc phòng và an ninh thuộc về vấn đề an ninh quốc gia, an ninh biên giới. Nó bao gồm rất nhiều lĩnh vực giáo dục và đào tạo khác nhau, về rèn luyện ý chí và sức khỏe, về nghĩa vụ người lính, về khí tài và về các kỹ thuật cần cho chiến tranh, cho đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài.
    Trẻ con ngay từ đầu phải dạy cho những kiến thức về an ninh phi truyền thống, an ninh trong căn nhà mình sống, an ninh trong ngôi trường mình học, an ninh trên con phố mình qua lại. Học sinh phổ thông phải có kiến thức an toàn thực phẩm, an toàn giao thông, an toàn sức khỏe, an toàn trong lớp học và trong gia đình… Trẻ phải biết cách đề phòng với tệ nạn bạo lực học đường, bạo lực gia đình, tránh các vụ lộn xộn trên đường phố, trên xe buýt đưa các em tới trường.
    Học sinh phổ thông chưa cần phải nắm lý thuyết về quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, phòng thủ dân sự, kỹ năng quân sự.
    Nên giúp các em học xong lớp 12 sẵn sàng và tự nguyện tham gia nghĩa vụ quân sự, sau đó về học nghề để sống với tư cách một công dân bình thường. Như vậy mới là giáo dục quốc phòng cho trẻ em.
    5. Chỉnh sửa lại những quan niệm sai đã ghi trong Chương trình
    ● Sửa cụm từ Năng lực chuyên môn thành năng lực học các môn (tr.41).
    Trong lao động nghề nghiệp, mỗi Ngành có nhiều Nghề, mỗi Nghề lại gồm nhiều Chuyên môn.
    Ngành giáo dục có nhiều Nghề như nghề dạy học, nghề quản lý giáo dục, nghề nghiên cứu khoa học giáo dục… Nghề dạy học lại gồm các chuyên môn như dạy học mầm non, dạy học phổ thông, dạy học đại học. Chuyên môn lại chia ra thành bộ môn như dạy Toán, dạy Văn, dạy Sử…
    Ở đây, năng lực học Văn, Toán, Lý, Hóa là năng lực học bộ môn chứ không phải năng lực chuyên môn.
    ● Sửa lại khái niệm “Trách nhiệm với gia đình” (tr.35)
    Văn bản hướng dẫn “trách nhiệm với gia đình” với trẻ em Tiểu học là có ý thức giữ gìn đồ dùng trong nhà, không làm hỏng làm mất đồ dùng của cá nhân và gia đình, không để thừa đồ ăn thức uống, tiết kiệm tiền bạc.
    Với trẻ Trung học cơ sở: có ý thức tiết kiệm chi tiêu
    Gia đình là gì? Là cộng đồng huyết thống với tư cách là một Tế bào trong xã hội, trong đó có các quan hệ huyết thống và các nghĩa vụ giữa các thế hệ Ông bà – Cha mẹ - Con cái – Cháu chắt.
    Tiết kiệm điện, giữ gìn cái ấm nước đâu phải là thực hiện quan hệ huyết thống? Người làm chương trình mà ấu trĩ thế này thì người dân nào tin rằng, chương trình này mang tính hiện đại, đổi mới.
    Bỏ đi những yêu cầu mà học sinh không thực hiện được
    Ví dụ 1: Về năng lực tự học (tr.37)
    Trẻ em Tiểu học: Có ý thức tổng kết và trình bày được những điều đã học.
    Một đứa trẻ 6, 7 tuổi tổng kết trình bày được những gì nó thấy hàng ngày để thành kiến thức của nó được sao. Tụi nhỏ lớp 1,2 còn nhõng nhẽo trong ăn uống, tranh dành nhau đồ chơi, trêu chọc nhau và mách ông bà, cha mẹ liên tục vì bị anh hay chị nó bắt nạt, trêu chọc. Nó lặp lại lời mẹ dặn còn không mạch lạc thì trình bày làm sao những điều đã học.
    Ví dụ 2: Về năng lực giao tiếp và hợp tác (tr.38)
    Trẻ Tiểu học: Nhận biết được một số đặc điểm nổi bật của các thành viên trong nhóm để đề xuất phương án phân công công việc phù hợp
    Trẻ Trung học phổ thông: Đánh giá được nguyện vọng, khả năng của từng thành viên trong nhóm để đề xuất phương án tổ chức hoạt động hợp tác.
    Có lẽ đây là biểu hiện của sự duy ý chí đỉnh cao. Cán bộ phụ trách công tác Tổ chức – Cán bộ trong ngành liệu đã làm tốt việc đánh giá con người như thế này chưa?
    Ví dụ 3: Về năng lực sử dụng tiếng Việt (tr.41)
    Trẻ Tiểu học phải viết đúng chính tả và ngữ pháp, viết được bài văn ngắn về chủ đề quen thuộc (bằng chữ viết tay hay đánh máy), điền được thông tin vào các mẫu văn bản.
    Trên thực tế, nhiều sinh viên và nhiều cán bộ tốt nghiệp đại học vẫn viết sai ngữ pháp, vẫn không gõ máy tính làm văn bản. Đứa trẻ tiểu học làm sao thực hiện được điều này.
    Ví dụ 4: Về năng lực tính toán (tr.43)
    Trẻ Tiểu học phải làm quen với lập luận logic. Bước đầu sử dụng ngôn ngữ toán học để tiếp nhận, biểu đạt các ý tưởng toán học cũng như thể hiện chứng cứ, cách thức và kết quả lập luận.
    Nếu thế này thì học xong Tiểu học, trẻ được gọi là nhà Toán học.
    Quả thật, mới học đến phân số mà trẻ đã có ý tưởng toán học thì nhiều người không tưởng tượng nổi.
    Ví dụ 5: Năng lực tìm hiểu xã hội (tr.47)
    Trẻ Tiểu học trình bày được những ước mơ của bản thân về tương lai đất nước và thế giới.
    Trẻ Trung học cơ sở: Tranh luận về vai trò của bản thân đối với sự nghiệp phát triển bền vững của quê hương, đất nước.
    Tôi nghĩ, các chính trị gia còn e dè phát biểu về vấn đề này.

    III. Về định hướng phương pháp giáo dục và đánh giá giáo dục
    1. Mục đích về phương pháp giáo dụctrong nhà trường là những khẩu hiệu đúng hơn những phương pháp cụ thể.
    Một là, nhà trường khép kín trong khuôn viên nhỏ hẹp, không có cơ chế, quy định nào về mở cửa thông sang nhà máy, xí nghiệp, đồng ruộng, công trường thì làm gì tổ chức giáo dục trải nghiệm sáng tạo…
    Hai là, nhà trường hiện nay đã trang bị máy tính, các máy dạy học thông minh mà hy vọng dạy trên các công nghệ thông tin và các hệ thống tự động hóa của kỹ thuật số?
    Ba là, thầy cô giáo có bao nhiêu thời gian làm khoa học, đã tham gia đề tài, đề án nào… để có điều kiện dạy học sinh tham gia dự án nghiên cứu?

    2. Việc đánh giá, về lý thuyết, tôi đồng ý phải đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ.
    Trong chương trình này, vấn đề thi tốt nghiệp bị lảng tránh. Bộ có chủ trương về thi như thế nào. Đây là vấn đề bức xúc nhất trong những bức xúc về giáo dục.

    3. Về điều kiện thực hiện chương trình
    Văn bản viết như thế này là chỉ nêu lên những quy định và điều kiện cơ sở vật chất – kỹ thuật, không làm cho Chính phủ và dân chúng biết: Đầu tư cho trường sở, giáo viên ở mức này thì giải quyết được những gì về mục tiêu giáo dục, ở mức độ kia thì đạt được mục tiêu ra sao.
    Câu hỏi lớn: Làm theo Chương trình này, tổng đầu tư ngân sách là bao nhiêu (để Chính phủ có hướng lựa chọn).

    IV. Những công việc nên làm trước khi đưa ra Chương trình này giáo dục phổ thông tổng thể
    1. Việc đầu tiên là nên dừng lại những công việc được gọi là ĐỔI MỚI (ví dụ năm nào cũng quy định lại việc thi tốt nghiệp phổ thông), để cho hoạt động Dạy và Học tạm ổn định, lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng như lãnh đạo Bộ, các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách cùng với dân chúng có thời gian suy nghĩ, đánh giá cho đúng thực trạng giáo dục về mọi mặt.
    Cần tổng kết giáo dục một cách toàn diện trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đã ghi trong Nghị quyết 29-NQ/HNTW. Vấn đề giáo dục hiện nay không vội được, càng vội càng rối, bởi kinh nghiệm ngàn đời là Dục tốc bất đạt.
    Tổng kết giáo dục thật nghiêm túc thì mới thấy lối đi sắp tới.
    (Rất tiếc là, Đại hội VIII của Đảng đã đề ra tổng kết giáo dục, nhưng trên thực tế, chủ trương này bị bỏ qua, và hệ quả là như bây giờ).

    2. Đổi mới giáo dục là sự nghiệp cách mạng giáo dục, được tiến hành với những cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý, cơ sở triết học, cơ sở thực tiễn và phải dựa vào cơ sở khoa học, trong đó có khoa học giáo dục, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học nhân văn.
    Tôi có cảm tưởng rằng, rất nhiều thay đổi (mà được gọi là Đổi mới) trong giáo dục thường chẳng dựa vào nghiên cứu khoa học, nhất là những nghiên cứu về khoa học giáo dục, về con người và sự phát triển con người Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Không dựa vào kết quả nghiên cứu cụ thể, mà lại dựa vào ý chí chủ quan, dựa vào những quan niệm lỗi thời, dựa vào lối tiếp thu cách hiểu và cách làm giáo dục của nước ngoài một cách cứng nhắc và không chọn lọc (và dựa vào ý kiến của không ít người được gọi là chuyên gia giáo dục nhưng thật ra là những người ít hiểu biết về lĩnh vực này) thì nhiều khi Đổi mới chỉ là thay đổi tùy tiện, thiếu trách nhiệm.v.v…
    Chẳng hạn, năm nào ta cũng thay đổi cách thi tốt nghiệp. Nhưng vì sao cứ phải thay đổi hàng năm khi chưa tổng kết được những vấn đề:
    - Kỳ thi mang lại lợi ích gì cho trẻ em (đối tượng đi thi), cho cha mẹ chúng, cho xã hội?
    - Kỳ thi hướng vào mục đích gì, vì quyền lợi của dân, vì sự phát triển con người hay vì sự tiện lợi và lợi ích của nhà quản lý?
    - Kỳ thi mang lại tác động gì tới xã hội về các phương diện làm tăng chất lượng đào tạo, động viên trẻ em học hành, được xã hội đồng thuận hay phân tâm?
    v.v…..

    3. Nên tăng cường công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục các cấp (nhất là cán bộ quản lý giáo dục cấp huyện và cấp xã), rà soát lại trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ trong cơ quan chỉ đạo, quản lý giúp việc cho lãnh đạo Bộ. Những cán bộ không đủ năng lực tham mưu, có sai phạm hoặc thiếu hiệu quả phải được bố trí việc khác và đào tạo lại. Chấn chỉnh lại Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và đầu tư sâu hơn cho Học viện quản lý giáo dục. Có nên cải cách sư phạm hay không là một câu hỏi tôi đã đặt ra nhiều lần nhưng chưa được chấp nhận.
    Kính thưa Bộ trưởng,
    Đánh giá một văn bản (chương trình giáo dục phổ thông tổng thể) là việc khó. Tôi thường chỉ dùng kinh nghiệm của mình để góp ý trong các Hội nghị, Hội thảo.
    Trong 2 tháng qua, tôi dự khá nhiều những Hội thảo để đóng góp ý kiến cho giáo dục. Tôi cũng đã dự hầu hết các Hội nghị chuyên gia để giúp Bộ Tư pháp luật định hóa những vấn đề giáo dục mà Bộ chuyển sang cho họ, trước khi Bộ đưa vấn đề này để Nhà nước thẩm định.
    Riêng với văn bản này, càng đọc tôi càng không hài lòng, nhưng không đủ thời gian để nghĩ về cách giải quyết. Nói rằng, văn bản có chỗ không hay thì dễ, nhưng sửa bằng cách nào thì khó. Do vậy, tôi cũng phải thú thực rằng, bản thân tôi lúng túng lắm.
    Xin có mấy ý chia sẻ với Bộ trưởng.
    Kính chúc Bộ trưởng an khang, sáng suốt chỉ đạo đổi mới giáo dục trong giai đoạn tới.

    Hà Nội, ngày 01 tháng 5 năm 2017
    Kính thư!
    GS.TS. Phạm Tất Dong

Ủng hộ bài viết này