Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    GÓP Ý KIẾN VỀ
    DỰ THẢO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỔNG THỂ

    Vấn đề đổi mới toàn diện giáo dục Việt Nam đã được nêu ra từ Nghị Quyết Đại Hội Đảng (NQ ĐHĐ) lần thứ IX, rồi lại được nhắc lại trong NQ ĐHĐ X với nhấn mạnh thêm “đổi mới căn bản và toàn diện.” Suốt 10 năm của 2 nhiệm kỳ ĐHĐ không lay chuyển được các chuyên viên của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo để đổi mới cơ bản và toàn diện nền giáo dục hiện tại của Việt Nam. Thật ra cũng có một số thay đổi, thấy rõ nhất là các qui chế thi cử và tuyển sinh, và chủ trương nới lỏng độc quyền về xuất bản sách giáo khoa (SGK). Sang ĐHĐ lần XI, vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạolại được ghi trong NQ, nhưng mãi đến Hội Nghị Trung ương lần thứ 8 Khóa XI mới có thêm NQ đặc biệt về vấn đề này, và tiếp theo đó Quốc Hội ra thêm Nghị Quyết 88/2014/QH13 thì Bộ GDĐT mới thật sự chuẩn bị cho đổi mới chương trình giáo dục phổ thông quốc gia. Sang NQ ĐHĐ XII, vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo Việt Nam được nhắc lại lần thứ tư, thì sau cùng lần này Bộ GDĐT đã công bố lấy ý kiến chuyên gia về Dự Thảo Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông – Chương Trình Tổng Thể do Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết làm Tổng Chủ Biên.

    Theo yêu cầu của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, các chuyên gia đang đọc Dự Thảo và nghiên cứu để góp ý kiến với Bộ một cách tích cực để sớm có một Chương trình Giáo Dục Phổ Thông mới cho nước ta. Chúng tôi rất hoan nghênh những cố gắng mà Ban Biên Soạn đã dày công tham khảo nhiều chương trình hiện đại của các nước tiên tiến để áp dụng trong bối cảnh Việt Nam. Dự thảo này có thể đáp ứng mong ước của xã hội ta về một chương trình giáo dục căn bản hiện đại cho mọi người Việt Nam, làm bệ phóng vững chắc cho sự phát triển tiếp theo trong quá trình hội nhập thế giới. Có chương trình mới này, Nhà Nước sẽ cùng xã hội đầu tư đến nơi đến chốn cho giáo dục phổ thông – nền tảng của giáo dục Việt Nam – để xây dựng mới một thế hệ con người Việt Nam biết kế thừa và phát huy những tinh hoa của đất nước, chấm dứt tệ trạng giáo dục hiện nay khi học sinh tốt nghiệp phổ thông rồi mà không biết làm gì được hơn là tiếp tục lo thi vào đại học. Rất tiếc Dự thảo này chỉ bắt đầu từ lớp 1 trong khi sự hình thành của mỗi con người bắt đầu từ khi lên 3 tuổi. Sau đây là những góp ý của tôi:

    Phần đặt vấn đề (Lời nói đầu) - quan điểm và mục tiêu
    Cách đặt vấn đề như vậy là chưa đầy đủ vì chưa dám nhìn vào thực trạng tổng thể phát triển của đất nước ta. Sau hơn 40 năm sống trong hòa bình thống nhất, nhưng đại bộ phận nhân dân vẫn còn nghèo. Nguyên nhân của cái nghèo của nước ta chủ yếu vì giáo dục và đào tạo của chúng ta chậm đào tạo được con người Việt Nam có đủ phẩm chất và năng lực cần thiết cho sự phát triển vượt bậc trong thế giới kinh tế tri thức. GDP đầu người của dân Việt Nam xếp gần áp chót trong số các nước ASEAN, và đứng chót trong số các nước TPP vì sản phẩm giáo dục và đào tạo của chúng ta có bằng tốt nghiệp từ nhiều trường lớp không đạt chuẩn, có giáo viên không đạt chuẩn, có học sinh ngồi nhầm lớp, nhiều kết quả thi cử không trung thực, nhiều thành tích giáo dục không hiện thực, đào tạo ra những con người tốt nghiệp trung học không giao tiếp được bằng một ngoại ngữ, không khởi nghiệp được, không đi làm việc được, chỉ biết tiếp tục lo thi cử để cố vào đại học. Vì Dự thảo chưa dám nhìn sự thật này nên mục tiêu giáo dục phổ thông ghi là “nhằm phát triển phẩm chất và năng lực” con người một cách rất bao quát, toàn diện nhưng chưa tập trung được vào đặc tính nào rõ ràng. Tôi đề nghị Ban Soạn thảo xem xét các mục tiêu giáo dục phổ thông của các quốc gia tiên tiến trong thời đại thế kỷ 21, để bổ sung mục tiêu người tốt nghiệp Việt Nam phải có (1) khả năng giao tiếp bằng một ngoại ngữ, (2) khả năng làm việc hoặc khởi nghiệp, (3) khả năng học thêm nghề chuyên môn, và (4) khả năng học cao hơn trung học.

    Yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh
    Phần này Dự thảo đã được soạn thảo rất hiện đại, nêu ra 6 phẩm chất và 10 năng lực của người học sinh phổ thông, với tiêu chuẩn nội dung kiến thức hoặc kỹ năng chi tiết cho từng phẩm chất, nội dung tại 3 cấp: tiểu học, trung học cơ sở, và trung học phổ thông. Phần rất quan trọng - nội dung chi tiết rõ ràng của từng môn học cho từng lớp học (Chuẩn Kiến Thức môn học) - thì chưa soạn, Ban soạn thảo để lại cho nhóm làm sách giáo khoa lo sau. Đây là một điều rất bất cập, không bảo đảm tính nhất quán của một chương trình mới gần như hoàn toàn do các chuyên gia Ban Soạn Thảo thiết kế những học phần mới. Nếu chỉ dừng lại với từng ấy nội dung chi tiết từng cụm tiểu học, THCS và THPT như vậy sẽ không tránh được chồng chéo kiến thức trong các lớp. Chúng tôi đề nghị Ban Soạn thảo nên tiếp tục xây dựng cho được Bộ Chuẩn Kiến thức môn học của toàn bộ Chương trình GDPT mới này.
    Một trong những dổi mới trong GDĐT là viết SGK. Bộ GDĐT không nên tiêu tốn ngân sách nhà nước quá nhiều để làm công việc mà các nhà xuất bản tư nhân có thể làm hiệu quả hơn (không tốn ngân sách 7-8 mươi ngàn tỷ mỗi 2-3 năm, chất lượng bài soạn cao hơn). Bộ sẽ quản lý chất lượng qua Bộ Chuẩn Kiến Thức Môn học, chứ không bằng SGK do Bộ tự soạn thảo và tự xuất bản. Chúng tôi đề nghị Bộ GDĐT giao cho Ban Soạn thảo Dự án tổ chức soạn Bộ Chuẩn kiến thức môn học để các nhà xuất bản mời các chuyên gia viết sách giáo khoa cho cả hệ thống giáo dục chúng ta áp dụng triệt để, với một tỉ lệ thời gian hợp lý dành cho các địa phương thêm vào. Các giáo viên tham khảo nhiều SGK để soan giáo án, chọn quyển SGK nào hay nhất để giới thiệu cho học sinh mua về học.
    Trong số 10 năng lực cần hình thành trong người học sinh, với nhiều chi tiết của mỗi năng lực được hình thành trong quá trình học tập cả 12 năm, nên lưu ý thêm là học sinh sẽ học lên lớp cao hơn sau trung học, nên các em sẽ hình thành thêm năng lực cao hơn. Vì vậy trong giai đoạn trung học phổ thông:
    - Chưa nên gọi năng lực “tự chủ” mà nên gọi “tự lực.” Hãy nhìn cháu bé đang tự mặc áo, tự cài khuy áo, đó là năng lực tự lập. Khái niệm “tự chủ” nên dành cho sinh viên đại học.
    - nên nhấn mạnh năng lực song ngữ trong năng lực giao tiếp. Trong suốt quá trình từ lúc 3 tuổi ở nhà trẻ - mẫu giáo + 12 năm GDPT học sinh được tiếp cận, trau dồi tiếng Việt và một Ngoại Ngữ (như học sinh Singapo, Malaixia, Philippin, các nước Nam Á, Trung Đông, tất cả các nước Châu Phi…).

    Về Kế hoạch giáo dục
    Kế hoạch giáo dục được đổi mới gần như hoàn toàn, tiếp cận được ngang tầm quốc tế. Nổi bật nhất là bốn môn học (1) Tiếng Việt-Ngữ Văn, (2) Ngoại Ngữ, (3) Toán, và (4) Giáo Dục Thể Chất được học trong suốt quá trình 12 năm.
    Về môn Tiếng Việt nên thiết kế chương trình cho học sinh học Tiếng Việt thật giỏi, phát âm tiếng Việt thật chuẩn (không nói đớt như phần lớn học sinh ngày nay).
    Về môn Ngoại Ngữ, chỉ học một Ngoại ngữ (Tiếng Anh hoặc Tiếng Pháp, Tiếng Hoa) xuyên suốt từ 3 tuổi - Mẫu giáo đến lớp 12. Không nên học hai ngoại ngữ trong chương trình phổ thông. Nếu học sinh có năng khiếu ngoại ngữ nào khác thì họ có thể học thêm ở lớp học bên ngoài trường. Môn Ngoại ngữ (Anh Văn) dù học bao nhiêu tiết đó cũng sẽ không đủ cho các cháu luyện một ngoại ngữ đạt mức giao tiếp. Đề nghị Ban Soạn Thảo thêm tiết học Ngoại ngữ để nâng cao năng lực giao tiếp song ngữ, tốt nhất là Việt Anh, cho người Việt chúng ta, nếu không thì người Việt luôn bị lép vế với dân ASEAN, dân Nam Á, dân Trung Đông, dân châu Phi, châu Âu và châu Mỹ khi hội nhập quốc tế. Nên giảm bớt môn học TC1 bằng cách cho chọn thêm môn Ngoại Ngữ 1 như là một môn TC1 để học sinh có thêm thời gian học ngoại ngữ cho lưu loát. Thêm tiết Ngoại ngữ nữa bằng rút bớt tiết học Giáo Dục Quốc Phòng và An Ninh để luyện thêm năng lực giao tiếp bằng song ngữ Việt Anh.

    Cần toàn diện hơn nữa:
    Như nhận xét bên trên, Dự thảo đã đạt mục tiêu đổi mới giáo dục Việt Nam một cách gần cơ bản và toàn diện. Nhưng tôi tin rằng Chương trình phổ thông đổi mới này sẽ không đạt mục tiêu cơ bản và toàn diện, và khó thực nếu những vấn đề sau đây không được được đổi mới:
    1) Lớp Mẫu giáo phải là đơn vị quan trọng nhất của giáo dục phổ thông, nên được bao gồm trong giáo dục phổ thông mới. Trong hệ thống giáo dục hiện tại của Việt Nam, các lớp mầm non và mẫu giáo của ta rất bị coi thường; các cháu bé mới vào đời chỉ được dạy bởi phần lớn là giáo viên chưa đạt trình độ đại học, thiếu trải nghiệm nếp sống văn minh, phát âm không chuẩn, gây ấn tượng xấu cho trẻ thơ. Hệ thống giáo dục các quốc gia tiên tiến luôn coi trọng Giáo Dục Mầm Non, do giáo viên già dặn nghề giáo đảm trách.
    2) Thêm Bộ Chuẩn Kiến Thức (Set of Standards of Knowledge) của từng môn học đổi mới dạy trong từng lớp học. Đây là tài liệu quan trọng nhất mà Bộ sẽ dùng để quản lý chất lượng giáo dục, đánh giá giáo viên và học sinh, chứ không phải là Chương trình Sách Giáo Khoa. Bộ nên giao nhiệm vụ cho Ban Soạn Thảo huy động thêm chuyên gia các môn học tham khảo các Bộ Chuẩn Kiến Thức của các nước để soạn bộ chuẩn cho Việt Nam. Thí dụ môn Toán lớp 3 tuổi thì học gì, Lớp 4 tuổi học gì, cho đến lớp 12 học gì. Có được bộ chuẩn của từng môn học, các nhà xuất bản sẽ hợp đồng các chuyên gia môn học để soạn SGK từng lớp theo đúng Bộ Chuẩn Kiến Thức mà Bộ đã duyệt.
    3) Đào tạo giáo viên. Đây là khâu gay go nhất. Gần như tất cả các môn học sẽ đổi mới về nội dung kiến thức và phương pháp dạy/hướng dẫn. Với trình độ giáo viên tốt nghiệp từ các trường sư phạm qua chương trình đào tạo giáo viên kém hiệu quả hiện nay thì không thể nào dạy nổi chương trình mới này. Do đó, đổi mới cơ bản nhất của giáo dục của Việt Nam chính là đổi mới trước tiên chương trình đào tạo sư phạm để đáp ứng sự đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Vấn đề này không được xem thường, phải thẳng thắng nhìn nhận chất lượng đội ngủ giáo viên phổ thông của ta hiện nay để thiết kế lại chương trình đào tạo giáo viên sao cho mỗi giáo viên tốt nghiệp Chương Trình Đào Tạo Giáo Viên mới phải đạt trình độ cơ bản chuẩn về Tiếng Việt và Tiếng Anh (hoặc Ngoại Ngữ 1 khác), và các môn học mới thiết kế bởi CT GDPT vừa soạn thảo.
    Đối với các giáo viên hiện đứng lớp: cần một chương trình dào tạo cấp tốc giáo viên dạy chương trình mới với Bộ Chuẩn Kiến thức môn học mới sẽ được Bộ GDĐT công bố. Mỗi giáo viên môn học được huấn luyện Phương pháp dạy, phương pháp đánh giá mức độ học sinh đạt chuẩn kiến thức… Làm quen cách dạy với thực tế môn học, phải có khả năng chỉ cho học sinh những ứng dụng của kiến thức đang học vào thực tiễn. Khai thác khía cạnh hướng nghiệp của môn học mình đang dạy.
    4) Phương tiện dạy và học của mỗi trường học phải được trang bị thật đầy đủ: trợ huấn cụ (đồ chơi để học, máy móc, sân vườn…), Thư Viện với các tài liệu tham khảo cơ bản (cả giáo viên và học sinh đều tham khảo) và nối mạng Internet với nhiều đầu máy để bàn.

    NHẬN XÉT CHUNG VÀ KẾT LUẬN
    1. Đây là một Chương trình GDPT được đổi mới gần như toàn diện và cơ bản. Chương trình sẽ toàn diện hơn nếu được bổ sung những đề nghị đã nêu như:
    1.1 Bao gồm Lớp Mẫu giáo vào Chương trình.
    1.2 Quan tâm đặc biệt môn Tiếng Việt và Ngoại Ngữ: phải đạt chuẩn “giao tiếp được.”
    1.3 Soạn Bộ Chuẩn Kiến thức Môn học cho toàn bộ chương trình mới.
    2. Đào tạo lại nguồn nhân lực giáo dục mới:
    2.1 Đổi mới chương trình đào tạo sư phạm hiện nay cho phù hợp CT GDPT mới
    2.2 Đào tạo giáo viên mới
    2.3 Huấn luyện chương trình mới cho các giáo viên đang đứng lớp hiện tại.
    3. Trang bị cơ sở vật chất cho các trường phổ thông.
    3.1 Thư viện
    3.2 Học cụ đầy đủ cho các trường.
    4. Thời gian áp dụng.
    Căn cứ các nhiệm vụ nêu trên cần được chuẩn bị thực hiện đầy đủ trước khi sẵn sàng áp dụng Chương trình GDPT mới, nếu làm khẩn trương, chúng tôi dự đoán phải cần thời gian ít nhất 3 (ba) năm kể từ khi có quyết định hành động.

    GS. Võ Tòng Xuân

Ủng hộ bài viết này