Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator


    MỘT SỐ Ý KIẾN GÓP Ý VỀ
    CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI


    1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH
    - Chương trình tiệm cận với trình độ chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) các nước tiên tiến trong khu vực. Cụ thể:
    + Chương trình hướng tới phát huy tố chất đa dạng của người học thông qua các môn học và các hoạt động đa dạng. Người học có khả năng lựa chọn các môn học để khám phá tố chất của mình và phát triển các năng khiếu mà không bị quá tải. Điều này được thực hiện thông qua hệ thống các môn học tự chọn và các môn học có tính lựa chọn về nội dung.
    + Phát huy được tính tích cực, chủ động và trách nhiệm của người học thông qua việc cho người học nhiều cơ hội lựa chọn.
    + Phương thức dạy học kết hợp tích hợp và phân hóa cũng là một điểm tiên tiến của chương trình mới. Điều này cho phép, một mặt, hình thành năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn, liên ngành, mặt khác cho phép phát triển các năng lực chuyên biệt liên quan đến từng môn học riêng biệt.
    + Phát triển trí sáng tạo của người học thông qua các hoạt động sáng tạo: trong từng môn học và qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    + Nội dung chương trình phản ánh được những tri thức mới, hiện đại của nhân loại, phù hợp với bối cảnh phát triển KH-CN hiện nay (tuy nhiên đây là nhận định thông qua phần mô tả chung về môn học. Điều này cần được kiểm chứng thông qua chương trình môn học cụ thể)
    - Chương trình GDPT được thiết kế phù hợp với những yêu cầu đặt ra trong đường lối, chiến lược phát triển giáo dục phổ thông quốc gia thể hiện trong Chiến lược phát triển giáo dục và trong NQ 29 “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Cụ thể:
    + Việc phân chia 2 giai đoạn giáo dục: cơ bản và định hướng nghề nghiệp là phù hợp với điều kiện cụ thể của trình độ phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam hiện nay.
    + Tập trung phát triển hài hòa cả năng lực và phẩm chất người học; các phẩm chất nhân cách được chú trọng phát triển là những phẩm chất mang tính dân tộc sâu sắc và mang tính nhân loại phổ quát.
    + Tập trung phát triển năng lực thực của người học, không chỉ tập trung vào hình thành kiến thức mà có bước chuyển biến về chất trong tập trung hình thành năng lực thông qua các hoạt động của người học, thông qua các loại hình hoạt động và trải nghiệm đa dạng của học sinh.
    + Có phương án mới giải quyết nhiệm vụ phân luồng học sinh sau THCS và THPT.
    - Chương trình mới tiếp thu được những điểm tích cực trong kinh nghiệm triển khai đổi mới giáo dục trong thời gian gần đây: chương trình VNEN; chương trình Trường học mới; đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực; đổi mới trong đánh giá học sinh tiểu học…
    - Một số điểm bất cập:
    + Giai đoạn định hướng nghề nghiệp (lớp 10-12) tách làm 2 – lớp 10 – dự hướng thực chất vẫn giống giai đoạn GD cơ bản) và lớp 11, 12 định hướng nghề nghiệp (ĐHNN) là không triệt để trong phân chia 2 giai đoạn. Nên chăng cần phân chia lại khung 2 giai đoạn: GD cơ bản - lớp 1-10 và GD ĐHNN – lớp 11-12. Điều này vừa tạo sự thống nhất trong phân tách các giai đoạn GD cơ bản và GD hướng nghiệp, vừa giúp dễ thực hiện chương trình, quản lý nhà trường. Giai đoạn lớp 11-12 thực hiện như trường dự bị đại học.
    + Về tổng thể cần có đánh giá chương trình hiện hành làm cơ sở cho đổi mới và đặc biệt cần có thực nghiệm chương trình mới trước khi đưa vào đại trà. CTGD liên quan đến số đông học sinh và dân chúng nên cần có kiểm nghiệm nghiêm túc.
    + Cần có đánh giá tổng thể năng lực và mức độ sẵn sàng làm nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên phổ thông, đánh giá tổng thể mức độ đáp ứng của cơ sở vật chất các trường học từ góc độ đáp ứng yêu cầu của chương trình mới, dựa theo đo xác định lộ trình triển khai chương trình mới.

    2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ
    - Những phẩm chất chủ yếu được tập trung phát triển ở học sinh: yêu đất nước, yêu con người, chăm học, chăm làm, trung thực, trách nhiệm chưa phản ánh tổng quá các giá trị nhân loại phổ quát như yêu hòa bình, yêu tự do; các phẩm chất chăm học, chăm làm mơ hồ và có thể bị hiểu sai lệch.
    - Tổ chức dạy học: việc quy định mỗi tiết học cho lớp 1 và lớp 2 từ 30 phút đến 35 phút; cho lớp 3, lớp 4 và lớp 5 từ 35 phút đến 40 phút trong cùng cấp tiểu học gây khó khăn cho việc tổ chức dạy học toàn trường (học sinh và giáo viên cần nghỉ cùng thời gian để chuyển lớp)
    - Tiểu học có số môn học lớn, nên rút số môn học và tăng tiết học cho các môn còn lại vì theo nguyên tắc hình thành năng lực là phải đầu tư tới hạn về thời gian hoạt động. Môn “Thế giới công nghệ” nên được lược bỏ, các kiến thức ở đây nên được tích hợp vào môn “Cuộc sống quanh ta”.
    - Nên có lựa chọn cho học sinh dân tộc thiểu số (lựa chọn theo vùng miền) ở môn Ngoại ngữ - đầu tư thời gian của môn ngoại ngữ 1 cho tiếng Việt; sang THCS sẽ dần đưa ngoại ngữ 1 vào. Việc học ngoại ngữ 2 cho học sinh DTTS là tự chọn theo khả năng, không yêu cầu phải học NN2.
    - Mạch logic của Giáo dục khoa học xã hội trong các môn học cốt lõi nên là: Cuộc sống quanh ta (lớp 1, lớp 2 và lớp 3), Tìm hiểu xã hội (lớp 4 vàlớp 5),Khoa học xã hội (không phải Lịch sử và Địa lý) ở cấp trung học cơ sở, Lịch sử, Địa lý (cấp trung học phổ thông).
    + Việc diễn giải một số các phẩm chất và năng lực cần đạt của học sinh chưa phản ánh rõ các trình độ (theo thang Bloom), ví dụ, không thể phát biểu “6.2.1. Nắm được những tri thức cơ bản về đối tượng của các khoa học xã hội (KHXH)”; các mức độ nhận thức ở đây chỉ dùng ở mức hiểu (mức 2/6 theo thang Bloom0 mà chưa đạt đến mức cần thiết.
    - Về điều kiện thực hiện:
    + Nên quy định lại số học sinh trên lớp: tối đa 30 HS/lớp với Tiểu học và 40/lớp với Trung học (sửa đổi điều lệ trường Tiểu học và Trung học). Điều này là cần thiết để áp dụng các hình thức tổ chức và phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực.
    + Quy định về trách nhiệm đảm bảo các điều kiện thực hiện chương trình mới của các cấp chính quyền địa phương và cơ quan quản lý giáo dục tại các địa phương cũng như quốc gia.
    + Xác lập cơ chế thực hiện xã hội hóa giáo dục để tăng cường huy động tiền lực cộng đồng cho giáo dục. Hiện việc chỉ đạo xã hội hóa giáo dục chưa thống nhất và chưa rõ ràng gây nhiều khó khăn và sai lệch trong triển khai thực hiện./.

    PGS. Trần Văn Nam
    Đại học Đà Nẵng

Ủng hộ bài viết này