Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỔNG THỂ


    I. VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG DỰ THẢO CT TỔNG THỂ
    1. Những vấn đề chung
    - Bản Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (GDPTTT) tháng 4/2017 đã đáp ứng được các yêu cầu về quan điểm xây dựng chương trình, mục tiêu, yêu cầu và kế hoạch giáo dục, phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; đã quán triệt được quan điểm đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục của Đảng .
    - Trong chương trình GDPTTT, qua mỗi giai đoạn giáo dục (giáo dục cơ bản, giáo dục định hướng nghề nghiệp) đã thể hiện được quan điểm: giảm tải về nội dung giáo dục, định hướng giáo dục tập trung vào hình thành năng lực và phẩm chất, nhân cách của học sinh.
    - Định hướng xây dựng các chương trình môn học khá rõ ràng, đầy đủ, làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình môn học được thuận lợi, đảm bảo các quan điểm nêu trên.
    - Dự thảo chương trình GDPTTT đã tiếp cận xu hướng phát triển chương trình GDPT của các nước phát triển ở mức độ phù hợp nhất; đồng thời kế thừa được những mặt tích cực của chương trình GDPT của Việt Nam đã và đang thực hiện ở mức độ cao.
    - Các biểu hiện yêu cầu cần đạt về năng lực và phẩm chất của HS ở từng cấp học trong dự thảo chương trình GDPTTT khá phù hợp, có sự tiến bộ hơn so với bản dự thảo tháng 1/2017.

    2. Về kế hoạch giáo dục
    - Hệ thống các môn học được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc trong chương trình GDPTTT được thiết kế khá hợp lý và phù hợp với yêu cầu của chương trình đổi mới.
    - Dành 2/37 tuần thực học cho các môn tự chọn và nội dung GD của địa phương là hợp lý.
    - Số lượng các môn học và hoạt động GD ở từng lớp của mỗi cấp đã được phân bố phù hợp, không nhiều môn như hiện nay, đáp ứng tốt yêu cầu giảm tải.
    - Tên các môn học ở từng lớp của mỗi cấp là phù hợp, hiện nay chưa thấy bất hợp lý, có lẽ phải chờ biên soạn xong chương trình cụ thể mới có thể nhận thức rõ hơn nội dung của môn học. Do đó, cứ giữ nguyên tên các môn trong chương trình GDPTTT này.
    - Về thời lượng GD cho từng môn, hoạt động GD cho từng lớp ở mỗi cấp đã thể hiện được kế hoạch GD chung và do đó, cũng phù hợp yeu cầu chuyển tải nội dung chương trình GD. Vì vậy, không cần phải điều chỉnh thêm.
    - Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, dự thảo chương trình GDPTTT nêu việc “không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy học nội dung GD của địa phương đối với những lớp chưa thực hiện dạy 2 buổi/ngày”, không nói rõ thời điểm nào thì sẽ đáp ứng điều kiện này để thực hiện nội dung này. Có nên nêu lộ trình để tất cả các lớp phải thực hiện nội dung này không, hay “bỏ ngỏ”. Đề nghị giải thích thêm cấn đề này.
    - Việc cho phép HS lớp 11 và 12 được tự chọn 1 chuyên đề và 3 môn học trong 11 môn của chương trình, ngoài các môn học bắt buộc, có ưu điểm và hạn chế là:
    + Khuyến khích HS tập trung vào những môn học mà mình có sở trường, tạo hứng thú học tập;
    + Chương trình có tính mở, tạo thuận lợi cho người học trong việc lựa chon môn học mà mình có sở trường;
    + Hiệu quả và tính khả thi cao.
    +Tuy vậy, đòi hỏi về GV sẽ cao hơn cả về số lượng và chất lượng; việc nhà trường chủ động bố trí, sắp xếp GV phù hợp với nhu cầu của HS sẽ gặp khó khăn hơn; cơ sở vật chất, trường lớp cũng sẽ khó khăn nếu không đáp ứng được với các các nhu cầu lựa chon của HS.
    Theo yêu cầu trong Nghị quyết 88 của QH khóa XIII, giai đoạn GD định hướng nghề nghiệp cần “bảo đảm HS được tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn sau trung học” là nguyên tắc của GD trong giai đoạn sau cơ bản, nhưng có lẽ không nên hiểu là HS phải được giáo dục nghề nghiệp ngay từ giai đoạn này. Bởi vậy, quy định như trong CT là phù hợp. Có lẽ chưa có phương án nào tốt hơn.

    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Nêu như Dự thảo về đánh giá kết quả học tập của HS có thể thấy vai trò của cơ sở GD rất cao, quyền tự chủ rất lớn. Hiện nay, việc đánh giá kết quả để cấp bằng THPT vẫn là một kỳ thi quốc gia thống nhất trong toàn quốc. Tất nhiên việc đổi mới để giảm áp lực thi cử là cần thiết và kỳ thi quốc gia như hiện nay sẽ rất tốn kém, nhiều áp lực và còn mang tính hình thức, chưa thực sự chất lượng và hiệu quả. Nếu trao quyền cho cơ sở GD thực hiện toàn bộ khâu đánh giá để cấp bằng tốt nghiệp THPT ngay thì e rằng “thả” mạnh quá vì các cơ sở GD có thể chưa đủ khả năng để làm việc này ngay, rất dễ sinh tiêu cực. Vì vậy, có thể cân nhắc giao cho Sở GD các địa phương chủ trì thống nhất chỉ đạo tổ chức việc thi tốt nghiệp THPT và cấp bằng khi đủ các điều kiện theo quy định của Bộ GD&ĐT thì hợp lý hơn. Tùy theo khả năng, các địa phương vận dụng trên cơ sở điều kiện thực lực của từng trường.

    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CT GIÁO DỤC PHỔ THỔ THÔNG
    1. Quy định hiện hành về lớp học, số HS, điểm trường chưa cần thay đổi ngay, cần trải qua thực thực tiễn áp dụng CT mới để có cơ sở thay đổi cho phù hợp.
    2. Về số lượng và cơ cấu GV các cấp học cũng tạm chấp nhận như hiện nay, quan trọng là phải tập trung đào tạo lại, bồi dưỡng GV cho đáp ứng yêu cầu của CT mới. Việc thay đổi cơ cấu, số lượng cũng cần thực hiện dần dần theo quá trình thực hiện toàn bộ CT mới ở cả ba cấp học (TH, THCS, THPT).
    3. Về cơ sở vật chất trường lớp phụ thuộc vào khả năng đầu tư ngân sách nhà nước và xã hội hóa. Hiện nay còn đang rất khó khăn. Đề án đổi mới CT-SGK hầu như không có khoản kinh phí nào chi cho nội dung này mà nó nằm trong các Đề án khác. Bởi vậy, việc đồng bộ đổi mới: CT, GV, CSVC là rất khó khăn. Bởi vậy, sẽ thực hiện từng bươc đổi mới nâng cấp CSVC theo quá trình thực hiện CT mới.
    4. Quan hệ nhà trường – gia đình – xã hội đã được quy định bởi nhiều văn bản và khá rõ ràng. Tuy nhiên vấn đề ở chỗ là thực hiện thế nào cho hiệu quả. Trong giai đoạn tới khi CT mới được thực hiện, cần đẩy mạnh tính hiệu quả của mối quan hệ này, bởi yêu cầu của CT mới là tập trung vào GD năng lực và phẩm chất HS, nên mối quan hệ bộ ba này đóng vai trò hết sức quan trọng.
    5. Quy định bắt đầu từ năm học 2018-2019 dạy học 2 buổi/ ngày cho lớp 1 là hơi gấp, vì qua khảo sát còn khá nhiều địa phương thiếu cơ sở vật chất để dạy học 2 buổi/ ngày cho tiểu học (thậm chí cả cho mầm non). Tôi đề nghị cần khảo sát và đánh giá kỹ lưỡng hơn để quy định cho sát hợp. Tiếp theo, 2022-2023 học 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp của Tiểu học cũng là một vấn đề. Do đó, cần nghiên cứu kỹ để quy định như trên có tính khả thi cao.
    6. Quy định ở lớp 11, 12 các trường xây dựng tổ hợp môn học bắt buộc tự chọn (để HS chọn ba môn trong các tổ hợp này) để đáp ứng nhu cầu người học và phù hợp với điều kiện về GV và CSVC là hợp lý và cần phải triển khai sớm để kịp đáp ứng lộ trình triển khai thực hiện CT mới.

    Hà nội, ngày 11 tháng 5 năm 2017
    TS. Trịnh Ngọc Thạch
    Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN

Ủng hộ bài viết này