Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    GÓP Ý KIẾN VỀ DỰ THẢO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỔNG THỂ

    PGS.TS Đặng Bá Lãm
    Nguyên Viện trưởng Viện Phát triển giáo dục
    1. Những vấn đề chung

    Chương trình giáo dục phổ thông (CT GDPT) tổng thể được xây dựng công phu trên cơ sở tổng kết đánh giá các ưu nhược điểm của chương trình hiện hành, tham khảo và học tập kinh nghiệm xây dựng chương trình giáo dục phổ thông của nhiều quốc gia.

    Quan điểm xây dựng chương trình rõ ràng, thể hiện tính logic.

    Các khái niệm, đặc biệt là những khái niệm mới, như: chương trình định hướng năng lực, các năng lực chung của học sinh, dạy học tích hợp, dạy học phân hóa…) đều tương đối rõ ràng.

    2. Về mục tiêu chương trình

    Khi tiếp thu kinh nghiệm phát triển chương trình giáo dục phổ thông của các nước tiên tiến, cần đặc biệt ưu tiên học tập kinh nghiệm của những nước có hệ thống giáo dục phổ thông như ở Việt Nam hiện nay.

    Tuy tham khảo kinh nghiệm các nước và kế thừa các chương trình giáo dục phổ thông nước ta đã thực hiện từ trước đến nay, nhưng việc đổi mới chương trình GDPT lần này phải đề xuất được quan niệm mới về xây dựng chương trình và cách làm mới về thực hiện chương trình.

    Tôi đề nghị quan niệm mới là: Giáo dục phổ thông phải thực sự đa diện (tôi không dùng từ “toàn diện” vì từ đó khá trừu tượng), phải thực sự giáo dục bốn mặt theo thứ tự ưu tiên là: sức khỏe (cả thể chất và tinh thần), quan hệ xã hội, hiểu biết thế giới, năng lực thẩm mỹ (cả cảm xúc và hành vi). Gọi ngắn gọn như xưa nay là: Thể, Đức, Trí, Mỹ.

    Vì sao phải ưu tiên giáo dục sức khỏe (cả thể chất và tinh thần)? Vì trong thực tiễn cuộc sống đây là mặt được mọi người quan tâm trước hết. Vì có sức khỏe thì mới học tập và làm việc được, nếu không có sức khỏe cuộc sống không ở trạng thái “thoải mái” (WHO) thì cuộc sống không còn hạnh phúc. Ai mà chẳng quan tâm đến sức khỏe, từ sức khỏe con trẻ đến sức khỏe người già. Gặp nhau câu đầu tiên là hỏi thăm sức khỏe. Thế mà giáo dục nhà trường lại quan tâm đến giáo dục sức khỏe ít nhất trong tất cả các mặt. Đó là một điều trái ngược với cuộc sống cần thay đổi. Để thay đổi lại điều đó cho phù hợp với cuộc sống thì nhà trường, từ nhà quản lý đến các nhà giáo, từ xây dựng chương trình đến thực hiện chương trình cần trước hết đặt giáo dục (bao gồm cả rèn luyện) sức khỏe lên trên. Quá trình trẻ em học ở trường phổ thông (từ 6 đến 18 tuổi) cũng là quá trình trẻ trưởng thành, phần lớn thời gian trẻ em ở trường, mỗi tuần 5/7 ngày, mỗi ngày 8/16 giờ không kể giờ ngủ. Tức là các gia đình đã phó thác gần toàn bộ cuộc sống con mình từ trẻ thơ đến tuổi trưởng thành cho nhà trường. Vì vậy nhà trường phải giáo dục cho trẻ cách chăm sóc sức khỏe một cách khoa học, cách ăn, cách mặc, cách nghỉ ngơi, cách vui chơi giải trí, cách rèn luyện thân thể, cách sử dụng thời gian có lợi, cách chống lại các tác động có hại cho sức khỏe. Ví dụ cần hướng dẫn cho học sinh ăn thế nào cho đủ chất, không thiếu năng lượng mà không béo phì, cần hướng dẫn và theo dõi bữa ăn hằng ngày như thời khóa biểu các môn học. Cần theo dõi tiến bộ về thể chất học sinh hằng năm như theo dõi kết quả các môn học xưa nay. Cuối mỗi năm trẻ tiến bộ về thể chất như thế nào, đối chiếu với tiêu chuẩn theo lứa tuổi thì ở tình trạng nào, có gì bất thường không, cần có giải pháp gì để can thiệp nếu cần. Nhà trường, nhà nước cần theo dõi diễn biến sức khỏe của học sinh qua các năm, qua các thế hệ để đánh giá động thái của quá trình đó và có giải pháp thích hợp để cải thiện tình hình sức khỏe, chiều cao, cân nặng của thiếu niên, thanh niên ta. Đầu tư của nhà nước cho hoạt động thể dục, thể thao chủ yếu nên đưa vào nhà trường (từ tiểu học đến đại học).

    Việc thực sự coi trọng các mặt giáo dục, trong đó mặt cần ưu tiên là giáo dục sức khỏe, trước hết phải thể hiện vào việc dành thời gian cho các mặt giáo dục này trong chương trình. Ví dụ chương trình giáo dục tiểu học với việc học 2 buổi/ngày, 7 tiết/ngày, 31 tiết/tuần, thì hằng tuần dành cho mỗi mặt giáo dục khoảng 8 tiết: sức khỏe 8 tiết, quan hệ xã hội 8 tiết, hiểu biết thế giới 8 tiết, năng lực thẩm mỹ 8 tiết. Ngày nào học sinh cũng được học về các mặt đó dưới các hình thức khác nhau.

    Những người xưa nay quen nghĩ rằng học sinh đến trường để học các kiến thức môn học sẽ cho rằng thế thì học sinh đến trường học được ít quá. Tôi quan niệm rằng học sinh đến trường để sống và sẽ học qua cuộc sống đó. Lúc các em rèn luyện sức khỏe, học cách ứng xử xã hội, học đàn, học hát, học nhảy, học múa là các em đang học và đang sống, chứ không phải chỉ học toán, học văn mới là học. Hơn nữa trong lúc các em học trên các mặt khác như sức khỏe, ứng xử, thẩm mỹ cũng đồng thời là học cách tư duy (trước nay là độc diễn của môn Toán) và học cách sử dụng ngôn ngữ (trước nay là độc diễn của môn Ngữ văn-Tiếng Việt).

    Chương trình các cấp bậc học trên, nhất là trung học cơ sở, cũng thay đổi triệt để theo quan niệm đó. Để thực hiện được sự thay đổi đó cần thay đổi các điều kiện kéo theo là giáo viên và cơ sở trường lớp. Từ trước đến nay nói đến giáo dục ta chỉ nghĩ đến truyền thụ kiến thức nên chỉ chuẩn bị các điều kiện về giáo viên và trường lớp để làm việc đó. Từ nay nếu thay đổi quan niệm, thực sự giáo dục đa diện thì trong đội ngũ giáo viên bố trí cho một trường, một lớp, phải có đủ giáo viên để thực hiện các mặt giáo dục khác như giáo dục sức khỏe, giáo dục thẩm mỹ, chuyên gia dinh dưỡng, chuyên gia tâm lý, sức khỏe tinh thần, giáo viên dạy múa, hát, vẽ,… Các điều kiện vật chất của nhà trường cũng phải được bổ sung như: sân chơi, bể bơi, phòng thi đấu, phòng nhảy, phòng vẽ,… Hiện nay một số trường tư thục đã đầu tư theo hướng này và đã thu hút nhiều học sinh. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần nhanh chóng nắm bắt xu hướng đó và thay đổi kịp thời về thiết kế và thực hiện chương trình.

    Cũng cần thay đổi quan niệm cho rằng mọi thứ cần giáo dục cho học sinh đều phải đem vào chương trình và thực hiện tại lớp học. Trong thực tế, học sinh học ở nhiều môi trường. Chương trình và giáo viên chỉ cần hướng dẫn cho học sinh, theo đó chương trình tiểu học và trung học cơ sở không cần quá chặt chẽ, quá logic và đòi hỏi học sinh phải nắm vững theo cùng tiến độ; chỉ cần đến cuối năm, cuối cấp học sinh đạt được các yêu cầu nêu ra. Chương trình trung học phổ thông mới cần có tính chặt chẽ, tính logic.

    3. Về phân chia giai đoạn trong chương trình giáo dục phổ thông

    Giai đoạn đầu gọi là giáo dục cơ bản là đúng và phù hợp với quan niệm quốc tế. Nhưng giai đoạn sau không nên gọi là giai đoạn định hướng nghề nghiệp vì tên gọi đó không đúng với mục đích và nội dung giáo dục giai đoạn này. Về thực chất trong giai đoạn này vẫn trang bị cho học sinh học vấn cơ bản sâu hơn, chặt chẽ hơn, tạo điều kiện để học tập về các ngành nghề sau đó. Tên gọi lớp 10 là năm học dự hướng càng tối nghĩa. Giai đoạn này nên gọi là trung học phổ thông như hiện nay hoặc là trung học bậc cao, để phân biệt với trung học cơ sở. Cũng đừng hy vọng giáo dục nghề nghiệp được nhiều ở giai đoạn này vì nhà trường phổ thông không có điều kiện để làm điều đó.

    4. Những vấn đề liên quan

    Đề án “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông “ chỉ là một bộ phận trong những đề án lớn hơn như: “Đổi mới hệ thống giáo dục phổ thông” hoặc “Tái cấu trúc hệ thống giáo dục quốc dân”. Cần nêu rõ mối quan hệ giữa đề án này với các đề án lớn kia, cũng như với các đề án có liên quan khác như “Đổi mới hệ thống các trường sư phạm”… Phải công khai công bố “kiến trúc sư” của CT GDPT tổng thể, cũng như của từng môn học cụ thể để toàn xã hội biết. Không nên vẫn theo cách làm lâu nay là chỉ gắn với một tập thể (mà thường là gồm những người có chức sắc), hoặc gắn với người đứng đầu ngành.

    5. Một số vấn đề khác

    Về mục tiêu của chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông nhằm giúp học sinh hình thành phẩm chất và năng lực của người lao động là không phù hợp (trang 6). Khi còn ngồi trên ghế nhà trường học sinh là người học tập, chứ chưa phải là người sản xuất, làm sao có được các phẩm chất và năng lực của người lao động (con người là tổng hòa các quan hệ xã hội). Có lẽ chỉ nên đặt mục tiêu của chương trình ở cấp độ này là giúp học sinh phát triển tối đa điều kiện và tiềm năng của từng con người.

    6. Về kế hoạch giáo dục

    Không nên chia hệ thống các môn học thuộc CT GDPT thành 4 loại môn là môn là 1) Môn bắt buộc, 2) Môn bắt buộc có phân hóa, 3) Môn tự chọn bắt buộc và 4) Môn tự chọn. Cách phân chia này vừa phức tạp, khó hiểu vừa khó thực hiện. Trong giáo dục đại học cũng không thực hiện được các loại môn tự chọn bắt buộc và tự chọn. Trong giáo dục phổ thông, năng lực của giáo viên các trường thấp hơn. Vì vậy nên chia thành hai loại môn học là môn bắt buộc và môn tự chọn. Môn bắt buộc có phân hóa là một loại môn tự chọn.
    Tên các môn học tích hợp nên phù hợp với những tên gọi hiện hành của UNESCO. Ví dụ: không gọi Khoa học xã hội (theo cách gọi của Liên Xô cũ) mà gọi Khoa học xã hội – Nhân văn; không xếp Địa lý tự nhiên vào Khoa học xã hội,… Môn Khoa học tự nhiên nên nhóm từ các phân môn: Khoa học vật lý (gồm Vật lý và Hóa học ), Khoa học về cuộc sống (gồm sinh học, sinh thái, giải phẫu, sinh lý,…) và Khoa học trái đất (gồm Địa chất, Địa lý tự nhiên, Khí hậu – Khí tượng,…).

    Ở cấp trung học phổ thông chỉ nên đưa vào các môn học đơn môn để phù hợp với tính chất phân hóa. Về định hướng xây dựng các chương trình môn học, không nên đưa vào môn học Công nghệ với nội dung rất chung chung mà đưa môn học Kinh tế gia đình vào cấp trung học cơ sở cũng như lồng ghép một số kỹ năng nghề đơn giản vào các phân môn Khoa học vật lý, Khoa học cuộc sống ở cấp học này.

    Kinh nghiệm cho thấy sinh viên Việt Nam đi du học ở các trường đại học của Hoa Kỳ và nhiều nước khác đâu có cần phải học qua chuyên ban.

    Môn Tiếng Việt, Ngữ văn từ tiểu học đến hết giáo dục phổ thông nên gọi nhất quán là Tiếng Việt, không nên đồng nhất với văn học hay ngôn ngữ học, là các môn chuyên ngành như Lịch sử. Tiếng Việt cần cho mọi người Việt Nam như một công cụ tư duy và giao tiếp, có tiếng Việt trong Văn học nhưng còn có tiếng Việt trong khoa học, trong kinh tế, trong luật, trong văn bản hành chính và trong các lĩnh vực khác. Cần rèn luyện cho học sinh về các loại tiếng Việt đó. Có người yêu văn học, nhưng lại có người khác say mê âm nhạc, hội họa,… Không phải ai cũng cần học nhiều “văn” như hiện nay.

    Về đánh giá trong thực hiện chương trình giáo dục: Nên đánh giá nhẹ nhàng, không gây sức ép lên học sinh. Đánh giá chủ yếu nằm mục đích hướng dẫn, không phải để phán định, để xếp loại, so sánh hơn kém như xưa nay.

    7. Về phát triển chương trình GDPT


    Bộ GDĐT chỉ nên ban hành chương trình chuẩn, cho phép các địa phương, các trường được điều chỉnh (tất nhiên phải trong một giới hạn nào đó) để thành chương trình cụ thể. Còn nếu Bộ GDĐT vẫn quản lý đến chương trình cụ thể thì thực tế vẫn chưa vượt ra khỏi phạm trù “tiếp cận nội dung“.

Ủng hộ bài viết này