Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    BẢN ĐÓNG GÓP Ý KIẾN VÀO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỔNG THỂ

    Nhà báo Hồ Quang Lợi
    Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam
    Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực

    1. Nhận xét
    1.1. Về những vấn đề chung
    - Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể này đã thể hiện sự vào cuộc nghiêm túc của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đúng theo tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam.
    - Chương trình được xây dựng theo hướng đáp ứng đòi hỏi cấp bách của nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao, phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
    - Chương trình GDPT tổng thể về cơ bản đã bám sát tình hình thực tiễn của nền giáo dục Việt Nam hiện nay.
    - Chương trình GDPT tổng thể quan tâm kế thừa một số thành tựu nhất định của nền giáo dục truyền thống mấy chục năm qua.
    - Chương trình tiếp thu được một số kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục phát triển.
    - Các phẩm chất chủ yếu; các năng lực chung; các năng lực chuyên môn cần hình thành và phát triển cho học sinh; biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh ở từng cấp học được nêu trong Dự thảo nhìn chung là phù hợp.

    1.2. Về kế hoạch giáo dục
    - Việc sắp xếp các bộ môn theo hướng các môn học bắt buộc; môn học bắt buộc có phân hóa; các môn tự chọn bắt buộc; các môn học tự chọn, nội dung giáo dục của địa phương là cần thiết. Cách phân chia này vừa thể hiện tính khoa học và cũng tăng khả năng định hướng nghề nghiệp theo trình độ năng lực của học sinh.
    - Tôi đồng tình với cách phân chia thành hai giai đoạn chính là giai đoạn giáo dục cơ bản và giáo dục hướng nghiệp để từ đó bố trí các môn học phù hợp với cấp học theo hướng cấp tiểu học và THCS thì tích hợp các kiến thức tự nhiên và xã hội có tính nền tảng, cơ bản nhất, còn cấp THPT thì phân ban và tự chọn để hướng nghiệp rõ ràng hơn.
    - Việc đưa vào dạy học các môn học mới như: Thế giới công nghệ, Công nghệ và hướng nghiệp, Giáo dục quốc phòng và an ninh, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Thiết kế và công nghệ… là hợp lý và cần thiết.
    - Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học nhìn chung vẫn còn nhiều và nặng, chưa thật sự giảm tải cho học sinh.
    - Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, dự thảo nêu: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy nội dung giáo dục của địa phương” là phù hợp.
    - Việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và các hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn trong số 11 môn học nêu trong dự thảo phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường có ưu điểm lớn nhất là phát huy được sở trường, tạo niềm hứng thú, say mê học tập của học sinh, từ đó có lợi trực tiếp cho việc hướng nghiệp của các em ngay trong quá trình học tập. Tuy nhiên, việc tổ chức giảng dạy và học tập của nhà trường sẽ phải công phu hơn, kỹ càng hơn, vất vả hơn.

    1.3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Tôi đồng ý nội dung như Dự thảo CT GDPT tổng thể nêu, góp phần tránh được tình trạng “ứng thí” của nền giáo dục (học là để đi thi).

    2. Một số vấn đề đề nghị tiếp tục xem xét, hoàn chỉnh
    Mục đích của chương trình mới là kế thừa những thành tựu của nền giáo dục Việt Nam, đồng thời phải khắc phục cho được những nhược điểm của chương trình hiện tại (học sinh phải học nhiều môn, học quá tải, không thể tập trung vào những môn học phù hợp với định hướng nghề nghiệp). Theo đó, chương trình mới “thực hiện giáo dục toàn diện, tích hợp ở các cấp tiểu học và THCS, thực hiện giáo dục phân hóa và tự chọn ở cấp THPT”.
    Nếu xét trên bình diện văn bản, CT GDPT tổng thể đã định ra mục tiêu hoàn hảo nhưng tính khả thi, bền vững của chương trình mới là điều quyết định nhất và khó khăn nhất, nên rất cần được cân nhắc rất kỹ lưỡng bởi những lý do sau đây: Thứ nhất, tiến độ thực hiện gấp. Chỉ còn khoảng 1 năm nữa là bắt đầu triển khai chương trình, sách giáo khoa mới. Thời gian ngắn như vậy liệu có đủ để mọi viêc được thực hiện chu toàn cho lần đổi mới này?
    Tôi không đồng tình với một vài ý kiến có phần cực đoan cho rằng việc thực hiện chương trình này trong thời gian quá gấp có nguy cơ biến học sinh thành “chuột bạch”, nhưng tôi vẫn muốn nhấn mạnh rằng chương trình giáo dục tổng thể lần này cần phải rất chuẩn mực, vì vậy, cần có thời gian chuẩn bị thật kỹ lưỡng. Hết sức tránh tình trạng vừa làm vừa sửa, sai đâu sửa đấy. Khẩn trương, quyết liệt không có nghĩa là làm vội, làm ẩu. Chương trình phải chuẩn mực, các điều kiện đảm bảo cơ bản phải được chuẩn bị chu đáo nhất trong khả năng có thể. Đối với giáo dục, quan trọng nhất là tính chuẩn mực và chất lượng chứ không phải là tiến độ, mặc dù trong thời đại mới, khi cuộc cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt và quyết liệt trên mọi cấp độ thì tiến độ cũng được xem là một yếu tố tạo nên chất lượng.
    Đất nước ta đã có nhiều bài học sâu sắc về việc đưa ra các chỉ tiêu quá cao, các lộ trình và mốc thời gian hoàn thành quá gấp mà chưa lượng định hết các yếu tố khách quan và chủ quan nên nhiều việc lớn dang dở, tiêu phí nhiều tiền của, hậu quả lớn nhất là làm chậm tiến trình phát triển. Mặc dù vậy, vì yêu cầu bức thiết phải cải cách nền giáo dục Việt Nam, tôi cho rằng không thể cầu toàn khi bắt đầu thực hiện CT GDPT tổng thể. Vì thế, CT GDPT tổng thể nên được thực hiện theo cách thức “cuốn chiếu”: Cái gì hợp lý, không quá khó, đã bảo đảm chắc chắn thì làm trước. Không nên chờ hoàn chỉnh toàn bộ mọi khâu, mọi bước mới bắt đầu thực hiện, vì như vậy có thể phải mất thêm tới 5 năm -7 năm nữa. Tình hình mới không cho phép chúng ta đủng đỉnh hoặc quá chậm trễ. Một khâu nào đó chậm một năm thì hệ luỵ của nó có thể làm chậm cả hệ thống nhiều năm. Bắt đầu sớm bằng lớp 1 là bước đi phù hợp.
    Thứ hai, từ chương trình tổng thể này, phải xây dựng chương trình từng môn học cho từng lớp, cho từng cấp học. Một vấn đề lớn mà nhiều người rất băn khoăn là liệu có đủ thời gian để hoàn chỉnh một bộ sách giáo khoa mới đáp ứng được với chương trình giáo dục tổng thể này không? Thời gian triển khai chương trình mới bắt đầu từ năm học 2018 – 2019 đại trà ở lớp 1, lớp 6 và lớp 10 thí điểm. Vậy thời gian sau đó đã đảm bảo có sách giáo khoa mới đáp ứng được với chương trình học mới cho học sinh ở các lớp tiếp theo chưa? Cần phải có một lộ trình rõ ràng để có một bộ sách giáo khoa chuẩn mang tầm quốc gia.
    Thứ ba, giáo viên - những người nắm giữ vai trò quyết định, động lực chính của cuộc cải cách giáo dục - liệu đã có đủ tâm thế, đủ năng lực để bắt nhịp vào chương trình tổng thể này chưa? Họ đã sẵn sàng và tự nguyện thực hiện chương trình mới hay vẫn bị gò ép và miễn cưỡng? Mặt khác không thể không thấy rằng chúng ta đòi hỏi động lực đổi mới mạnh mẽ giáo dục trong khi lương cơ bản của giáo viên chưa tương xứng, đây cũng là một vấn đề không hề nhỏ. Một khi đã bắt đầu thực hiện chương trình mới này thì liệu còn tồn tại dai dẳng vấn nạn dạy thêm, học thêm tràn lan như một kiểu “làm kinh tế” để tăng thêm thu nhập của giáo viên nữa hay không?
    Thứ tư, nhìn chung, sự giảm tải chương trình chưa rõ, khối lượng kiến thức học sinh phải nắm còn quá lớn, thời gian học là 35 tiết/tuần vẫn là nhiều. Nếu có thể giảm tải được nữa thì vẫn nên giảm.
    Thứ năm, điều kiện cơ sở vật chất dạy học như hiện nay liệu đã đủ để chuyển toàn bộ chương trình giáo dục theo chương trình mới không, nhất là đối với các địa phương vùng sâu, vùng xa, còn gặp nhiều khó khăn?
    Thứ sáu, sự đồng thuận của học sinh, phụ huynh và cộng đồng xã hội là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự thành công của chương trình. Họ cần có tâm thế đầy đủ, vững vàng nhất cho công cuộc đổi mới giáo dục có dấu ấn lịch sử này. Tôi nghĩ, Bộ GDĐT cần tiếp tục nghiên cứu, khảo sát, dựa vào các cơ sở khoa học đáng tin cậy để khẳng định tính khả thi của chương trình, tránh tình trạng chạy theo dư luận, “đẽo cày giữa đường”.
    Thứ bảy, cần xác định một lộ trình chặt chẽ, đảm bảo tính pháp lý cao nhất trong phê chuẩn chương trình tổng thể vô cùng quan trọng này đối với sự nghiệp đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam. Nó đòi hỏi sự vào cuộc có trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Nó phải trở thành nguyện vọng, ý chí, tâm huyết và hành động tích cực của toàn xã hội.
    Thứ tám, để tăng thêm tính thuyết phục, độ tin cậy và tính khả thi, kèm theo chương trình tổng thể này, cần xây dựng một kế hoạch bài bản và cụ thể trong đó xác định những công việc phải tiến hành; phân công rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân; các điều kiện đảm bảo; tiến độ thực hiện những công việc đó,…
    Thứ chín, sau khi chương trình được phê chuẩn, trong các công việc triển khai, cần tập trung làm tốt công tác tuyên truyền, đặc biệt chú trọng phát huy hiệu quả của báo chí - truyền thông để tạo sự đồng thuận xã hội về nhiệm vụ rất quan trọng và khó khăn này.

    3. Kết luận
    Nhìn chung, Chương trình tổng thể này khắc phục được những hạn chế, bất cập, thiếu cơ bản của những lần cải cách giáo dục trước đây. Có thể khẳng định, đây là chương trình có tính hệ thống và khá toàn diện, thể hiện bước đột phá mạnh mẽ nhất, triệt để nhất, quyết liệt nhất trong tất cả các lần cải cách giáo dục từ trước đến nay. Nếu thực hiện thành công thì nền giáo dục phổ thông Việt Nam sẽ bước sang một kỷ nguyên mới, đúng theo chủ trương thay đổi cách thức giáo dục (từ nặng về truyền đạt kiến thức và tiếp thu kiến thức một cách thụ động sang rèn luyện phẩm chất và năng lực, phát huy tính tự chủ, sáng tạo của người học).
    Đó là điều vô cùng quan trọng để từng bước góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế trong cuộc Cách mạng 4.0 và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta trong thời đại hội nhập và toàn cầu hoá. Chúng ta cần chuẩn bị cho các thế hệ học sinh Việt Nam những phẩm chất và năng lực cần thiết nhất để xây dựng và phát triển đất nước, để vẫn giữ được bản sắc và phẩm giá Việt Nam, đồng thời có thể sống hoà đồng trong một thế giới nhiều thách thức nhưng đang hướng theo những giá trị nhân văn tốt đẹp.

    Việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông tổng thể là vấn đề rất quan trọng và cấp thiết, liên quan trực tiếp đến toàn bộ đời sống xã hội, cần thực hiện trên tinh thần khẩn trương nhất, trách nhiệm nhất, kỹ lưỡng nhất.
  2. Mai Sỹ Tuấn Mới đăng kí

    Bài viết của tác giả thể hiện sự quan tâm sâu sắc tới giáo dục nước nhà. Tôi đồng ý hầu hết ý kiến với tác giả, tuy vậy rất phân vân khi tác giả viết: "Thứ tư, nhìn chung, sự giảm tải chương trình chưa rõ, khối lượng kiến thức học sinh phải nắm còn quá lớn, thời gian học là 35 tiết/tuần vẫn là nhiều. Nếu có thể giảm tải được nữa thì vẫn nên giảm".
    Thực ra, theo các số liệu mà Ngân hàng Thế giới cung cấp và so sánh với chương trình và sách giáo khoa của các nước thì học sinh Việt Nam chúng ta hiện đang học quá ít giờ, nội dung học quá đơn giản, sách giáo khoa quá ngắn và sơ sài, thời gian cho thực hành và trải nghiệm không có hoặc quá ít. Lỗi khiến cho việc học của học sinh trở nên nặng nề là ở phương pháp dạy và học chủ yếu là ghi nhớ nội dung, phương pháp thi cử và đánh giá lạc hậu, chứ không phải ở nội dung chương trình quá nhiều. Nếu tiếp tục giảm giờ học, giảm nội dung dạy và học thì làm sao học sinh Việt Nam có đủ khối lượng kiến thức và kỹ năng để sánh vai với học sinh các nước và đáp ứng được yêu cầu của phát triển đất nước. Nếu cứ chạy theo những ý kiến không dựa trên những nghiên cứu đầy đủ thì làm sao khắc phục được những yếu kém của giáo dục.
    Theo tôi, học sinh Việt Nam chỉ học 35 tuần/ năm và mỗi ngày lại chỉ học một buổi thỉ chưa thể có giáo dục tiên tiến được.
    Xin có vài ý kiến trao đổi như vậy.

Ủng hộ bài viết này