Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Căn cứ Công văn số 1677/BGDĐT-GDTrH ngày 25/4/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc góp ý dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông (CT GDPT) tổng thể;
    Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên đã ban hành văn bản hướng dẫn phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện, thị xã, thành phố; các đơn vị trực thuộc Sở; các phòng chuyên môn nghiệp vụ Sở triển khai nghiên cứu và góp ý dự thảo CT GDPT tổng thể. Đối tượng lấy ý kiến gồm: Lãnh đạo Sở; lãnh đạo, chuyên viên các phòng chuyên môn nghiệp vụ Sở; lãnh đạo, chuyên viên các phòng Giáo dục và Đào tạo; cán bộ quản lý, giáo viên các trường Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông;
    Để tổng hợp ý kiến đóng góp từ cơ sở, Sở Giáo dục và Đào tạo ban hành quyết định thành lập Tổ tổng hợp các ý kiến góp ý dự thảo CT GDPT tổng thể Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên.
    Đến ngày 15/5/2017, có 62/62 đơn vị (đạt 100% theo kế hoạch) đã tham gia góp ý dự thảo CT GDPT tổng thể.
    Trên cơ sở tổng hợp, phân loại của Tổ tổng hợp,Sở Giáo dục và Đào tạo báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo công tác tổ chức góp ý kiến CT GDPT tổng thể, cụ thể như sau:

    I. VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG DỰ THẢO CT TỔNG THỂ
    1. Những vấn đề chung
    1.1 Qua nghiên cứu nội dung liên quan đến đổi mới giáo dục và đào tạo được nêu ra trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) thông qua; Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về đổi mới Chương trình, Sách giáo khoa; Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Chính phủ Phê duyệt Đề án đổi mới Chương trình, Sách giáo khoa giáo dục phổ thông.
    Dự thảo CT GDPT tổng thể mới đã thể hiện đầy đủ quan điểm đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đảm bảo tính kế thừa và tính hội nhập; chuyển từ giáo dục tiếp cận nội dung sang giáo dục hình thành năng lực, phát triển phẩm chất, năng lực người học và xây dựng nền giáo dục theo hướng mở; phân biệt rõ giữa giai đoạn giáo dục cơ bản và giáo dục định hướng nghề nghiệp; tăng cường tính tự chủ cho các địa phương, cơ sở giáo dục, người dạy và người học.
    1.2. Dự thảo CT GDPT tổng thểmới đã tiếp cận xu hướng phát triển CT GDPT của các nước tiên tiến, thể hiện ở mục tiêu, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục của chương trình.
    1.3. Dự thảo CT GDPT tổng thểmới kế thừa các CT GDPT đã có của Việt Nam, có sự kết hợp chặt chẽ giữa các lớp học, cấp học. Cụ thể: Quan điểm dạy học tích hợp, bảo đảm kết nối chặt chẽ giữa các lớp học ởcấp tiểu học. Các môn học Cuộc sống quanh ta (từ lớp 1 đến lớp 3) nội dung đã kế thừa Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội trong Chương trình hiện hành, vừa bổ sung và phát triển theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực học sinh. Môn Giáo dục lối sống (từ lớp 1 đến lớp 5) đã kế thừa nội dung môn giáo dục đạo đức của Chương trình hiện hành, đồng thời phát triển, bổ sung, thiết kế lại khoa học hơn.
    1.4. Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT GDPT tổng thể đã phù hợp, nhưng còn một số cụm từ diễn đạt mang tính chung chung, bao hàm nhau. Cụ thể: để yêu đất nước thì cần có tình yêu con người; có thể thay cụm từ “yêu con người” bằng “lòng nhân ái”, cụm từ “chăm học, chăm làm” bằng “yêu lao động”.
    1.5. Các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT GDPT tổng thể đã phù hợp, nhưng cần đề cao năng lực giải quyết vấn đề vì năng lực hợp tác đã bao gồm năng lực giao tiếp, năng lực tự chủ bao gồm tính chủ động học tập và năng lực giải quyết vấn đề bao gồm tất cả các năng lực trên.
    1.6. Các năng lực chuyên môn cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT GDPT tổng thể đã phù hợp, nhưng cần đặt năng lực giải quyết vấn đề là năng lực nòng cốt vì nó kết hợp một nhóm các năng lực khác như năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất...
    1.7. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT GDPT tổng thể đã phù hợp, nhưng cần thuyết minh cụ thể hơn làm thế nào để các phẩm chất này đạt được qua các mục tiêu của các môn học, cấp học.
    1.8. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT GDPT tổng thể đã phù hợp, nhưng thay vì nêu lên những năng lực có phạm vi hẹp như “thẩm mỹ, “thể chất”, “tính toán” qua từng môn học thì nên chia ra thành các mục tiêu học tập bao gồm phát triển những nội dung kiến thức và kĩ năng liên quan qua từng cấp độ và từng môn học cụ thể.
    2. Kế hoạch giáo dục
    2.1. Dự thảo CT GDPT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” vẫn còn có thể nảy sinh những bất cập, cụ thể:
    - Chương trình cho phép học sinh tự chọn môn học song thực tế có ít sự lựa chọn môn học. Nếu học sinh không tự chọn tiếng dân tộc thiểu số, hay Ngoại ngữ 2 thì không có môn học tự chọn nào khác.
    - Trong các môn học Hoạt động nghệ thuật và Hoạt động trải nghiệm sáng tạo việc bố trí thời gian, kinh phí hoạt động, giáo viên giảng dạy đặc biệt khu vực miền núi rất khó khăn.
    - Môn học Hoạt động trải nghiệm sáng tạo chưa chia tách rõ nội dung nào thuộc về hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nội dung nào thuộc về phần thực hành của các môn học riêng biệt. Vì vậy khó hình dung ra nhiệm vụ của người giáo viên dạy hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    2.2. Dự thảo CT GDPT tổng thể nêu: “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của CT GDPT tương đương với 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương” đã hợp lý. Tuy nhiên, thời gian thực học cho các môn học của CT GDPT tương đương với 37 tuần/năm học làm tăng cường độ công việc cho giáo viên, ảnh hưởng đến công tác bồi dưỡng hè, chế độ nghỉ phép hè trong năm học của giáo viên; việc tổ chức ngày toàn dân đưa trẻ đến trường 5/9 hàng năm khi các trường đã triển khai dạy học.
    2.3. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học nhiều hay ít? Nếu nhiều (ít) thì nên giảm (tăng) như thế nào?
    - Chương trình học lớp 10 các môn quá nhiều: với 15 môn học bắt buộc và môn học bắt buộc có phân hóa. Nên giảm bớt số môn học lớp 10 phù hợp với điều kiện thực tế.
    - Chương trình học lớp 11 và lớp 12 học với 6 môn bắt buộc là phù hợp.
    - Môn học tự chọn có ít môn, nếu học sinh dân tộc thiểu số phải chọn học tiếng dân tộc thiểu số khác hoặc ngoại ngữ 2 thì dẫn đến các em phải học cả Tiếng Việt, ngoại ngữ 1, ngoại ngữ 2 (hoặc tiếng dân tộc thiểu số khác) sẽ gây quá tải với học sinh.
    2.4. Môn học Hoạt động trải nghiệm sáng tạo không nên đưa vào như một môn học tách biệt, mà nên xác định cụ thể các kĩ năng chủ đạo mà hoạt động đó có thể mang lại để lồng ghép trong chương trình học nhằm hình thành và phát triển chúng trong học sinh song song với việc học sinh tiếp nhận kiến thức lý thuyết đã học trong các môn học.
    Đề xuất các môn học cho chương trình học lớp 10 gồm: Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Giáo dục quốc phòng và an ninh, Giáo dục thể chất.
    Đề xuất các môn học cho chương trình học lớp 11 và lớp 12 gồm:
    - Các môn học bắt buộc: Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ, Giáo dục quốc phòng và an ninh, Giáo dục thể chất.
    - Các môn học tự chọn (có thể lựa chọn theo nhóm môn) như sau: Khoa học tự nhiên (Vật lí, Hóa học, Sinh học); Khoa học xã hội (Lịch sử, Địa lí, Giáo dục kinh tế và pháp luật), Khoa học công nghệ (Khoa học máy tính và Tin học ứng dụng) và Nghệ thuật (Mỹ thuật, Âm nhạc, Thiết kế và công nghệ).
    - Đề nghị tích hợp môn tìm hiểu xã hội, tìm hiểu tự nhiên vào môn Cuộc sống quanh ta để giảm số môn học ở cấp tiểu học.
    2.5. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    - Thời lượng giáo dục của một số môn học của cấp THPT còn nhiều, cụ thể: những môn của lớp 11 và lớp 12 có số tiết 140 tiết/năm (Chia ra trung bình 4 tiết/tuần) hoặc môn Âm nhạc, Mỹ thuật của lớp 11 và lớp 12 số tiết là 105 tiết là khá nhiều.
    - Thời lượng giáo dục từng môn học cấp tiểu học nên thống nhất mỗi tiết là từ 35 đến 40 phút.
    2.6. Về kế hoạch dạy học ở tiểu học: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn và dạy học nội dung giáo dục của địa phương” chưa thực sự hợp lý vì hướng dẫn học sinh tự học, hiểu biết về chính quê hương, địa phương đang sinh sống, học tập là một nội dung quan trọng. Do vậy, vì điều kiện thực tiễn chưa thể thực hiện dạy học 2 buổi/ngày thì có thể bố trí thời gian tự học có hướng dẫn và dạy học nội dung giáo dục địa phương theo buổi học/tuần (1 hoặc 2 buổi/tuần).
    2.7. Việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo CT GDPT tổng thể) phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện của nhà trường sẽ giúp học sinh định hướng rõ nét hơn về nghề nghiệp tương lai. Tuy nhiên, để thực hiện được trong điều kiện thực tế về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên hiện nay, sự phù hợp với điều kiện vùng, miền, khu vực thì cần phải có lộ trình được chia thành từng bước để các địa phương có đủ thời gian đào tạo, bồi dưỡng tuyển dụng giáo viên, mua sắm thiết bị dạy học và cơ sở vật chất để từng bước đáp ứng được yêu cầu của chương trình mới.
    3. Định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Dự thảo CT GDPTtổng thể mới nêu: “Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông” là hợp lý.
    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CT GDPT
    1. Để thực hiện CT GDPTtổng thể mới thì quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường cần phải thay đổi. Bởi vì CT GDPT mới có nhiều môn học mới và hoạt động học tập được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhà trường như học lý thuyết, thực hành, thí nghiệm, trải nghiệm...Như vậy cần phải giảm số lượng học sinh trong 1 lớp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh và các giáo viên có điều kiện để quan sát, hướng dẫn học sinh học tập được tốt hơn. Cần có quy định riêng về sĩ số học sinh/lớp đối với những khu vực có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn khó khăn nơi biên giới hải đảo, khu vực có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, do đối tượng học sinh có nhiều hạn chế trong việc chủ động chiếm lĩnh kiến thức dưới sự tổ chức của giáo viên (chủ yếu do hạn chế trong giao tiếp, trong tiếp nhận và xử lí thông tin, tiếp cận công nghệ, ứng dụng CNTT; do tập quán sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số ảnh hưởng không nhỏ đến sự hòa đồng, việc chủ động tham gia tích cực vào các hoạt động học tập.... ) dẫn đến giáo viên gặp nhiều khó khăn trong việc tổ chức giờ học phát huy năng lực của học sinh, đặc biệt với các lớp có số lượng học sinh nhiều, không thể cùng thực hiện một tiêu chuẩn chung về sĩ số học sinh tối thiểu/lớp học với các vùng thuận lợi khác. Tuy nhiên vấn đề này nảy sinh mâu thuẫn với chủ trương cần phát triển số học sinh/lớp để tiết kiệm biên chế khi thực hiện tinh giản biên chế.
    Đề suất sĩ số tối thiểu/tối đa cấp THCS và THPT với khu vực khó khăn 25/30 học sinh/lớp; sĩ số tối thiểu/tối đa với khu vực thuận lợi 30/35 học sinh/lớp.
    2. Quy định hiện hành về số lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông cần phải thay đổi, vì để đáp ứng mục tiêu CT GDPT thì người giáo viên phải được giảm bớt số tiết dạy để dành thời gian, công sức, trí tuệ đầu tư cho việc chuẩn bị tiết dạy.
    Cụ thể: Tiết định mức đối với giáo viên cấp THPT của các trường chuyên biệt từ 12 đến 14 tiết/tuần; các trường không chuyên biệt từ 14 đến 15 tiết/tuần; Cơ cấu giáo viên trường tiểu học cần đạt tỉ lệ tối thiểu 1,5 giáo viên/lớp để đảm báo thực hiện dạy học 2 buổi/ngày trong đó các trường cần có đủ cơ cấu giáo viên để đảm bảo dạy các môn học theo quy định của CT GDPT mới. Tuy nhiên nếu giảm số giờ định mức thì số giáo viên tăng gây sức ép về chi thường xuyên và tinh giản biên chế.
    3. Quy định hiện hành về cơ sở vật chất trường THPT cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT. Cần đầu tư đủ phòng học, phòng học bộ môn đạt tiêu chuẩn; nhà đa năng, phòng truyền thống, văn phòng, phòng họp toàn thể cán bộ giáo viên, nhân viên, nhà kho, phòng công vụ cho giáo viên, phòng dành cho các tổ chức, các tổ chuyên môn; khu sân chơi, bãi tập, bể bơi.
    4. Nội dung chương trình hướng tới phát triển năng lực giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, đòi hỏi sự đa dạng về hình thức giáo dục (giáo dục ngoài nhà trường, tham quan, cắm trại, hoạt động cộng đồng....). Vì vậy phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội, không chỉ là khẩu hiệu phát động, tuyên truyền, mà cần cụ thể hóa đến từng đối tượng có liên quan. Do đó cần có các chế tài, các văn bản hướng dẫn chỉ đạo phối hợp hoạt động, kiểm tra đánh giá chất lượng các hoạt động giáo dục giữa nhà trường với gia đình học sinh, với các tổ chức có liên quan (chính quyền địa phương, các cơ sở hoạt động sản xuất, tham quan di tích...).
    5. Đối với trường tiểu học: “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày cần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018-2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022-2023 dạy học 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp tiểu học” là hợp lý, để đảm bảo chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện đáp ứng mục tiêu, tầm nhìn trong chương trình đã đề ra.
    6. Ở lớp 11 và lớp 12, việc đề xuất các trường xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc tự chọn (để học sinh tự chọn 3 môn học từ các tổ hợp này) nhằm đáp ứng nhu cầu người học đồng thời phù hợp với đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường là khó thực hiện được, thiếu tính khả thi, ở khía cạnh nào đó vẫn mang tính áp đặt (đáp ứng nhu cầu người học thì có thể gặp khó khăn về đội ngũ, cơ sở vật chất và ngược lại). Cụ thể: việc lựa chọn môn học bắt buộc tự chọn của học sinh từng khối lớp, từng năm học có sự khác nhau dẫn đến khó khăn về đội ngũ giáo viên (thừa, thiếu cục bộ, khó bố sắp xếp bố trí), cơ sở vật chất không đáp ứng.
    Vậy để đạt được mục tiêu phát triển năng lực của người học thì cần phải có chiến lược trong đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đáp ứng được nhu cầu người học.
    7. Trong các môn học, hoạt động giáo dục trong dự thảo CT GDPT tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của các nhà trường hiện nay đó là các môn: Hoạt động nghệ thuật, hoạt động trải nghiệm sáng tạo, tiếng dân tộc và Ngoại ngữ 2.
    - Môn Âm nhạc và môn Mĩ thuật (thiếu đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học, kinh phí hoạt động) và các hoạt động trải nghiệm sáng tạo như hoạt động tham quan, dã ngoại (thiếu kinh phí, phương tiện đi lại,...).
    - Đối với thực tế dạy học nội dung trải nghiệm sáng tạo cần có chương trình bồi dưỡng lại toàn bộ giáo viên để lồng ghép vào giảng dạy ở tất cả các bộ môn, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cần phân chia rõ thời lượng dành cho các hoạt động chung trong toàn quốc và thời lượng dành cho các hoạt động đặc thù mang tính địa phương.
    8. Để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo CT GDPTtổng thể cần đầu tư cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường theo hướng từng bước mở rộng quy mô diện tích phòng học khi được đầu tư xây mới; trang bị các phương tiện hỗ trợ dạy học hiện đại, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ nhằm đáp ứng yêu cầu của CT GDPT tổng thể.
    9. Hiện nay, theo Thông tư số 01/2017/TT-BTNMT ngày 09/2/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định định mức sử dụng đất xây dựng cơ sở văn hóa, cơ sở y tế, cơ sở giáo dục và đào tạo, cơ sở thể dục thể thao và các công trình văn hóa thuộc loại đất sinh hoạt cộng đồng có nhiều bất cập trong việc định mức sử dụng đất. Cụ thể: Các trường tiểu học và THCS có diện tích tối thiểu 2.000m2; diện tích tối đa của trường tiểu học và THCS là 10.000m2; trường phổ thông Dân tộc bán trú có diện tích tối thiểu 5.000m2, tối đa 10.000m2...nên ảnh hưởng đến quy hoạch và các hoạt động giáo dục của nhà trường.
    - Cần có thêm khu nhà, phòng làm việc cho giáo viên tăng hiệu quả làm việc tại trường để giảm áp lực làm việc tại nhà.
    Trên đây là những ý kiến tham gia góp ý về dự thảo CT GDPT tổng thể của Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên. Trân trọng./.

Ủng hộ bài viết này