Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Thực hiện Công văn số 1496/BGDĐT-VP ngày 12 tháng 4 năm 2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc xin ý kiến góp ý cho dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang đã ban hành Công văn số 565/SGDĐT-GDTrH-GDTX ngày 24 tháng 04 năm 2017 yêu cầu các đơn vị tổ chức triển khai cho cán bộ, giáo viên tại đơn vị nghiên cứu, góp ý cho dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Sau đây là tổng hợp các ý kiến đóng góp:
    1. Những vấn đề chung
    Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh, đề xuất 2 phẩm chất chăm học, chăm làm ghép chung lại phẩm chất là “Chăm chỉ”.
    2. Về kế hoạch giáo dục
    2.1. Hệ thống các môn học: đề xuất điều chỉnh lại như sau:
    - Môn học bắt buộc: là môn học mà mọi học sinh đều phải học.
    - Môn học tự chọn có điều kiện: là môn học mà học sinh tự chọn theo sở trường, nguyện vọng và đồng thời phải theo quy định của chương trình giáo dục phổ thông.
    - Môn học tự chọn: là môn học được học sinh tự nguyện lựa chọn, phù hợp với nguyện vọng, sở thích và định hướng nghề nghiệp của học sinhđiều kiện đáp ứng của các cơ sở giáo dục.
    2.2. Đề xuất trong một năm học có 37 tuần, trong đó 35 tuần thực học 02 tuần dự trữ (dạy bù, sơ kết, tổng kết, làm hồ sơ thi, lễ tri ân trưởng thành…)
    - Số tiết trong tuần: cần dành riêng 01 tiết chào cờ đầu tuần và 01 tiết sinh hoạt chủ nhiệm.
    - Các tiết hoạt động trải nghiệm sáng tạo cần linh hoạt hơn bằng cách đưa 50% số tiết vào các môn học và các bài học cụ thể.
    2.3. Giảm bớt số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở cấp Tiểu học:
    - Khối 1 học 5 môn (Tiếng Việt, Toán, Giáo dục lối sống, Giáo dục thể chất; Hoạt động trải nghiệm sáng tạo) và Tiếng dân tộc thiểu số (tự chọn)
    - Khối 2 học 6 môn (Tiếng Việt, Toán, Giáo dục lối sống, Cuộc sống quanh ta, Giáo dục thể chất, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo) và Tiếng dân tộc thiểu số (tự chọn)
    - Khối 3 học 7 môn (Tiếng Việt, Toán, Giáo dục lối sống, Cuộc sống quanh ta, Thế giới công nghệ, Giáo dục thể chất; Hoạt động trải nghiệm sáng tạo) và Tiếng dân tộc thiểu số (tự chọn)
    2.4. Thay đổi thời lượng giáo dục các môn học cấp tiểu học
    - Thời lượng học tập cho mỗi tiết học đều bằng nhau 35 phút, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý của trường học.
    - Môn học Ngoại ngữ, Tìm hiểu công nghệ-Tin học trước đây là môn học tự chọn nay trở thành các môn học bắt buộc nên khi triển khai, thời gian đầu ở địa phương gặp khó khăn về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.
    - Tổng số tiết mỗi tuần của tiểu học31 tiết là phù hợpcho việc dạy học 2 buổi trên ngày,song nhiều địa phương còn khó khăn về xây dựng cơ sở vật chất (phòng học, trường lớp).
    2.5. Việc tự chọn theo chương trình các môn học của học sinh 11 và 12
    Ưu điểm của chương trình là học sinh phát huy được sở trường cá nhân, góp phần định hướng nghề nghiệp, các trường THPT có nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức hoạt động; song các môn học mới xuất hiện trong chương trình như Âm nhạc, Mỹ thuật bước đầu địa phương có khó khăn về đội ngũ giáo viên.
    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    - Đánh giá định kỳ do các cơ sở giáo dục tổ chức theo các quy định chung, học sinh tích lũy đủ kết quả đánh giá được cấp bằng hoàn thành chương trình lớp học, kể cả việc cấp bằng tốt nghiệp THPT (không tổ chức thi THPT).
    - Bỏ kiểm tra học kỳ thay vào đó mỗi môn học, học phần sau khi hoàn thành số tiết dạy, nhà trường cho bài kiểm tra kết thúc học phần kết hợp với giao bài tập hoàn thành nhiệm vụđể đánh giá học sinh.
    - Mỗi học phần tối đa 2 lần kiểm tra, thời gian kiểm tra giao cho giáo viên quyết định, nhằm giảm bớt áp lực cho học sinh và giáo viên. Cho phép học sinh tự học, học ở nhà, học trên lớp, học ở nhiều kênh thông tin khác nhau, qua các bài kiểm tra của mỗi học phần học sinh thực hiện đạt yêu cầu là hoàn thành.
    4. Về điều kiện thực hiện chương trình
    - Quy định số học sinh trong một lớp ở các cấp học không quá 35 học sinh/lớp vì là điều kiện để giáo viên thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp giảng dạy.
    - Quy định về số lượng và cơ cấu gíáo viên theo hướng linh hoạt, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, tốt nhất là tiểu học 1,4 đến 1,5; THCS2,0 đến 2,25; THPT 2,25 đến 2,5.
    - Việc cấp kinh phí cho các đơn vị căn cứ vào số học sinh đầu vào hoặc đầu ra; tăng cường hợp lý quyền tự chủ tài chính của các cơ sở giáo dục.
    - Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường lớp theo hướng đáp ứng theo yêu cầu đổi mới; ưu tiên vùng khó khăn, vùng chất lượng còn thấp, đồng thời tạo cơ chế phù hợp để các cơ sở giáo dục thực hiện xã hội hóa nhất là lĩnh vực cơ sở vật chất.
    - Thực hiện việc phân cấp cho các cơ sở giáo dục, khuyến khích mô hình tự chủ về tài chính trong các trường công lập. Điều chuyển cán bộ quản lý, giáo viên để đảm bảo chất lượng dạy học và giáo dục tương đối đồng đều khi áp dụng đại trà chương trình, sách giáo khoa mới.
    - Việc bồi dưỡng đào tạo lại giáo viên theo hướng thực chất và có hiệu quả; quá trình đào tạo cần có sự phối hợp tốt từ các nhà Khoa học giáo dục, chuyên viên của Bộ, các trường Đại học Sư phạm...
    Trên đây là tổng hợp báo cáo các ý kiến góp ý về dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Sở Giáo dục và Đào tạo An Giang ./.

Ủng hộ bài viết này