Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Sau khi tổng hợp các ý kiến đóng góp của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý trong toàn ngành bằng văn bản và thông qua cuộc họp trực tuyến để lấy ý kiến của các đơn vị. Nay Sở Giáo Dục và Đào Tạo tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu tập hợp ý kiến góp ý dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể như sau:
    I. VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG DỰ THẢO CT TỔNG THỂ
    1. Những vấn đề chung
    1.1. Dự thảo CT tổng thể đã thể hiện việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ.
    1.2. Dự thảo CT tổng thể đã tiếp cận xu hướng phát triển CT GDPT của các nước tiên tiến.
    1.3. Dự thảo CT tổng thể có kế thừa các CT GDPT đã có của Việt Nam.
    1.4. Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể cơ bản đã phù.
    1.5. Các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể cần được làm rõ.
    1.6. Các năng lực chuyên môn cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp.
    1.7. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể chưa được rõ ràng, cần chi tiết rõ hơn.
    1.8. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp.
    2. Kế hoạch giáo dục
    2.1. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” đã hợp lý. Tuy nhiên ở phần các môn học tự chọn cần phải quy định rõ chọn tối thiểu và tối đa bao nhiêu môn,
    Không đưa vào nội dung môn học bắt buộc có phân hóa: các môn học bắt buộc có phân hóa sẽ gây ra sự khó khăn, phức tạp về quản lý vì học sinh tiểu học không thể định hướng cho mình, chưa biết lựa chọn các môn hay chủ đề phù hợp với bản thân. Nếu theo nguyện vọng của học sinh có thể sẽ có những môn học hay hoạt động mà học sinh lựa chọn nhưng nhà trường không đáp ứng được do chưa đảm bảo về cơ sở vật chất, giáo viên, ... thì sẽ ép học sinh lựa chọn chủ đề là thế mạnh của nhà trường.
    2.2. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của CT GDPT tương đương với 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương” đã hợp lý.
    2.3. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học nhiều hay ít? Nếu nhiều (ít) thì nên giảm (tăng) như thế nào?
    Cơ bản đồng ý với dự thảo chương trình tổng thể; nên tăng thêm thời lượng cho hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    2.4. Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Tên một số môn học và hoạt động giáo dục dài, khó hiểu và không thống nhất giữa các cấp học. Đề nghị rút gọn tên các môn học và hoạt động giáo dục: công nghệ thay cho thế giới công nghệ, trải nghiệm thay cho trải nghiệm sáng tạo, tin học thay cho tìm hiểu Tin học. Nếu muốn thể hiện mức độ cần đạt ở các cấp học thì thể hiện trong mục tiêu môn học;
    Đối với lớp 1, 2 môn học Tìm hiểu công nghệ là chưa cần thiết vì ở khối lớp 1, 2 cần đang phải tập làm quen với con chữ, con số. Đề nghị nên bắt đầu từ lớp 3 trở lên;
    Không nên tách thành môn trải nghiệm sáng tạo riêng. Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động cần phải có ở mỗi môn học, môn học nào không có tức là đã mất đi phần thực hành, thực nghiệm. Nên để trải nghiệm trong từng môn học, mỗi môn học có các trải nghiệm khác nhau (VD: Môn Lịch sử, các em được đi thăm Bảo tàng, Toán các em được thực hành,…).
    2.5. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Về thời lượng dạy học cấp tiểu học, dự thảo viết: “Mỗi tiết học cho lớp 1 và lớp 2 từ 30 phút đến 35 phút; cho lớp 3, lớp 4 và lớp 5 từ 35 phút đến 40 phút; giữa các tiết học có thời gian nghỉ.
    Các trường dạy học 2 buổi/ngày bố trí không quá 7 tiết học/ngày; 31 tiết học/tuần đối với lớp 1, lớp 2 và lớp 3; 32 tiết học/tuần đối với lớp 4 và lớp 5”.
    Mỗi trường học đều có quy định khung giờ học và giờ ra chơi chung cho cả trường nên cần thống nhất cho cả cấp tiểu học, mỗi tiết học từ 35 đến 40 phút.
    Với những trường chưa có điều kiện dạy 2 buổi/ngày thì việc dạy học 32 tiết/tuần là quá tải (vì nếu chỉ học 5 buổi/ tuần thì mỗi buổi học sinh phải học từ 6 đến 7 tiết).
    Trong dự thảo, số tiết của môn Giáo dục lối sống của các lớp 1, 2, 3 chỉ có 2 tiết/tuần và lớp 4,5 chỉ có 1 tiết/tuần.
    Như vậy là hơi ít vì giáo dục kiến thức phải đi đôi và cân bằng với giáo dục đạo đức, nên chăng cần tăng số tiết môn này lên 3 tiết/tuần cho tất cả các lớp trong cấp học.
    2.6. Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy học nội dung giáo dục của địa phương” cơ bản đồng ý với dự thảo.
    Các trường dạy học 2 buổi/ngày bố trí không quá 7 tiết học/ngày; 31 tiết học/tuần đối với lớp 1, lớp 2 và lớp 3; 32 tiết học/tuần đối với lớp 4 và lớp 5. Xuất phát từ nhu cầu thực tế nên quy định 32 tiết/ tuần đối với tất cả các lớp.
    2.7. Theo Thầy (Cô), việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo CT tổng thể) phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường có ưu điểm gì, hạn chế gì?
    Nếu không đồng ý phương án trên, đề nghị Thầy (Cô) đề xuất một số phương án khác nhằm thực hiện quy định tại Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT: “Giáo dục định hướng nghề nghiệp bảo đảm học sinh tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng”.
    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Dự thảo CT tổng thể nêu: “Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GDĐT được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CT GDPT
    1. Quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    2. Quy định hiện hành về số lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    3. Quy định hiện hành về cơ sở vật chất trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    4. Quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    5. Đối với trường tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày cần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 - 2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022 - 2023 dạy học 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp tiểu học” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    6. Ở lớp 11 và lớp 12, việc đề xuất các trường xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc tự chọn (để học sinh tự chọn 3 môn từ các tổ hợp này) nhằm đáp ứng nhu cầu của người học đồng thời phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    7. Những môn học, hoạt động giáo dục nào trong dự thảo CT tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác hiện nay?
    8. Để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo CT tổng thể có cần cải thiện cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác không? Nếu cần thì nên thực hiện các biện pháp nào?
    Ngoài các nội dung trên, Thầy, Cô có thể góp ý các nội dung khác của dự thảo CT tổng thể và đề xuất các ý kiến với Bộ GDĐT./.
    III. Một số ý kiến góp ý cụ thể
    1. Về biểu hiện phẩm chất của học sinh tiểu học
    Mục 2. Yêu đất nước trong dự thảo nên bổ sung cụm từ “Yêu Tổ quốc Việt Nam”.
    Trong mục 2.1. Yêu quý mọi người, dự thảo viết: “Yêu thương, tôn trọng bạn bè, thầy cô và những người xung quanh,...”.
    Cụm từ này lẽ ra chỉ cần viết là “Yêu thương, tôn trọng người xung quanh” hoặc “Yêu thương, tôn trọng mọi người” là được, vừa ngắn gọn, lại đủ ý.
    Trong mục 2.2. Tôn trọng khác biệt giữa mọi người, dự thảo viết: “Tôn trọng sự khác biệt của bạn bè trong lớp về cách ăn mặc, tính nết và hoàn cảnh gia đình”, “Không phân biệt đối xử, chia rẽ các bạn”, “Sẵn sàng tha thứ cho những hành vi có lỗi của các bạn”.
    Ba ý này nên điều chỉnht lại cho trọng tâm và mang tính bao quát hơn cho phù hợp với tên gọi của đề mục.
    Cụ thể, ba ý này có thể diễn đạt lại như sau: “Tôn trọng sự khác biệt, không phân biệt đối xử, chia rẽ mọi người; sẵn sàng tha thứ cho những hành vi có lỗi của người khác”.
    Mục 3. Chăm học trong dự thảo có ý: “Thích đọc sách để mở rộng hiểu biết”. Nên chăng ý này diễn đạt thành: “Thích đọc sách báo, ham tìm tòi để mở rộng hiểu biết”.
    Mục 4. Chăm làm có 2 ý là: “Thường xuyên tham gia các công việc gia đình vừa sức với bản thân” và “Thường xuyên tham gia các công việc của trường lớp, cộng đồng vừa sức với bản thân”.
    Đề nghị 2 ý này chỉ cần viết là: “Thường xuyên tham gia các công việc của gia đình, của trường lớp và cộng đồng vừa sức với bản thân”.
    Mục 5. Trung thực, dự thảo có ý: “Thật thà, ngay thẳng trong học tập và lao động; mạnh dạn nói lên ý kiến của mình trước người thân, bạn bè, thầy cô và mọi người”. Phải chăng không cần thật thà trong các lĩnh vực khác ngoài hoạt động “học tập và lao động”; “người thân, bạn bè, thầy cô” không nằm trong phạm vi “mọi người”?
    Ý trên chỉ cần diễn đạt ngắn gọn là: “Thật thà, ngay thẳng, mạnh dạn nói lên ý kiến của mình trước mọi người”.
    Cũng tại mục này còn có ý: “Không nói dối; luôn giữ lời hứa với người thân, bạn bè, thầy cô và mọi người...”.
    Ý này nên diễn đạt thành: “Không nói dối, luôn giữ lời hứa với mọi người...”.
    Vẫn tại mục này, dự thảo có ý: “Không tự tiện lấy đồ vật, tiền bạc của người thân, bạn bè, thầy cô và mọi người”. Với ý này chỉ cần diễn đạt là: “Không tự tiện lấy đồ vật, tiền bạc của người khác”.
    Mục 6.4. Có trách nhiệm với môi trường sống trong dự thảo có ý: “Không đồng tình với những hành vi xâm hại thiên nhiên”.
    Môi trường đâu chỉ có môi trường thiên nhiên mà còn có môi trường nhân tạo, nên ý này cần viết lại thành: “Không đồng tình với những hành vi gây hại cho môi trường”.
    2. Về biểu hiện năng lực của học sinh tiểu học
    Mục 1.1. Tự lực trong dự thảo có viết: “Tự làm được những việc của mình ở nhà và ở trường theo sự phân công, hướng dẫn”.
    Ngoài những công việc ở trường, ở nhà, học sinh tiểu học có khi còn tham gia vào các việc làm vừa sức ở cộng đồng nên ý này nên diễn đạt cho đầy đủ là:
    Tự làm được những việc của mình ở nhà, ở trường và ở cộng đồng theo sự phân công, hướng dẫn”.
    Mục 1.5. Tự học, tự hoàn thiện trong dự thảo có ý: “Có ý thức học hỏi thầy cô, bạn bè và người khác để củng cố và mở rộng hiểu biết”.
    Ý này chỉ cần diễn đạt ngắn gọn là: “Có ý thức học hỏi mọi người để củng cố và mở rộng hiểu biết”.
    Mục 2.2. Thiết lập, phát triển các quan hệ xã hội; điều chỉnh và hoá giải các mâu thuẫn có ý: “Nhận ra những bất đồng, xích mích giữa bản thân với bạn hoặc giữa các bạn với nhau; biết nhường bạn hoặc thuyết phục bạn”.
    Để nội hàm phù hợp với tên mục, ý này cần diễn đạt lại là: “Nhận ra những bất đồng, xích mích giữa bản thân với người khác; biết nhường nhịn hoặc thuyết phục người khác”.
    3. Chương trình giáo dục phổ thông (dự thảo); cách tiếp cận đối với các môn học bắt buộc và tự chọn chưa hợp lý.
    Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông quy định các môn học bắt buộc như sau:
    -Các lớp 1, 2, 3: 5 môn (Tiếng Việt, Toán, Giáo dục lối sống, Thể dục, Cuộc sống quanh ta).
    -Các lớp 4, 5: 7 môn (Tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục lối sống, Thể dục, Tìm hiểu xã hội, Tìm hiểu tự nhiên).
    -Trung học cơ sở: 8 môn (Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục công dân, Thể dục, Khoa học xã hội, Khoa học tự nhiên).
    -Trung học phổ thông: 4 môn (Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Công dân với Tổ quốc).
    - Theo dự thảo cấp THCS, các môn học bắt buộc gồm: Ngữ văn, Toán, Tiếng Anh, Giáo dục công dân, Khoa học tự nhiên, Tin học, Công nghệ và hướng nghiệp, Lịch sử và Địa lý, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Môn học tự chọn là Ngoại ngữ 2.
    Thực tế các nhà trường để học sinh thực sự chọn ngoại ngữ 2 theo đúng sở thích, năng lực của các em chưa được phổ biến mà việc lựa chọn này chủ yếu do nhà trường hay phụ huynh lựa chọn cho con em mình.
    Đóng góp cho chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, ở cấp Tiểu học và THCS chỉ nên cho học sinh học một ngoại ngữ bắt buộc, chứ không nên đưa thêm ngoại ngữ 2 là môn tự chọn vì ở những cấp học này, học sinh phải học các môn học khác khá nhiều. Việc dạy 2 ngoại ngữ cùng lúc bắt đầu từ cấp THCS có thể khiến áp lực học hành đối với học sinh nặng nề hơn.
    Trong phần V, mục định hướng về nội dung giáo dục, cần chú trọng thêm việc xây dựng đạo đức, tư tưởng, lối sống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh. Phần này nên bắt buộc đưa vào những môn học như ngữ văn, giáo dục công dân, giáo dục khoa học xã hội
    Giai đoạn 2 là giáo dục định hướng nghề nghiệp, cho nên sức ép về gánh nặng chương trình bị dồn xuống giai đoạn 1, nguy cơ về khả năng hạn chế để tiếp nhận kiến thức cơ bản và phải học quá tải cho học sinh tiểu học và THCS là điều dễ hiểu. Vì vậy khi xây dựng chương trình môn học cụ thể để soạn sách giáo khoa cũng cần giới hạn lại kiến thức. Số môn học thì giữ nguyên nhưng nên giảm số tiết xuống.
    Các hoạt động về hoạt động trải nghiệm sáng tạo, chuyên đề học tập và nội dung giáo dục của địa phương về bản chất có phần tương đối giống nhau khi tổ chức ở nhà trường. Cần quy định phân chia hợp lý khi thực hiện để không bị chồng chéo.
    Một số môn học và hoạt động giáo dục theo dự thảo có tính tích hợp. Nhưng nhà trường và giáo viên phổ thông bị động hoàn toàn, giáo viên chưa được trang bị kiến thức liên môn. Cho nên khi xây dựng chương trình cụ thể cho từng môn học, cần phải có quy định hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn về môn, phần, số tiết, cách thức tiến hành…
    Nên đưa hoạt động giáo dục định hướng nghề nghiệp thành một phần bắt buộc vào chương trình THCS (lớp 9) để phân luồng hợp lý sau khi học xong cấp này.

    Việc kết hợp với địa phương, với các thành phần xã hội (doanh nhân, nghệ sĩ…) trong một số hoạt động giáo dục là rất cần thiết. Song chính nó làm nên sự khập khiễng bởi nhiều địa phương có đặc thù riêng, nhiều địa phương khó khăn. Khi ấy phải có sự hỗ trợ về cách làm, về tài chính và cách đánh giá linh hoạt như thế nào để đảm bảo sự công bằng và giáo dục toàn diện./.

Ủng hộ bài viết này