Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Thực hiện Công văn số 1677/BGDĐT-GDTrH ngày 25/4/2017 của Bộ GDĐT về việc góp ý chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Sở GDĐT Bình Dương đã ban hành Công văn số 659/SGDĐT-GDTrHTX ngày 04/5/2017 về việc góp ý chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, trong đó đối tượng góp ý là Các trường THPT, các phòng GDĐT và các phòng ban Sở GDĐT, đồng thời Sở cũng tiếp tục ban hành Công văn số 675/ SGDĐT-GDTrHTX ngày 08/5/2017 về việc triệu tập họp các tổ nghiệp vụ bộ môn cấp THCS và THPT góp ý dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể vào 02 ngày 09/5/2017 và 10/5/2017, tổ mạng lưới cấp tiểu học cũng tổ chức họp lấy ý kiến ngày 08/5/2017.
    Ngày 12/5/2017, Sở GDĐT tổ chức họp Ban giám đốc với trưởng, phó các phòng ban Sở, Kết quả lấy ý kiến được thống nhất như sau:
    PHẦN 1
    GÓP Ý KIẾN THEO ĐỀ CƯƠNG CỦA BỘ
    I. VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG DỰ THẢO CT TỔNG THỂ
    1. Những vấn đề chung
    1.1. Dự thảo CT tổng thể đã thể hiện việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ chưa, ở mức độ nào?
    Dự thảo chương trình tổng thể đã thể hiện được tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo định hướng phát triển năng lực của học sinh. Đã tiếp cận được xu hướng đổi mới chung giáo dục và đào tạo của các nước tiên tiến trên thế giới.
    1.2. Dự thảo CT tổng thể đã tiếp cận xu hướng phát triển CT GDPT của các nước tiên tiến chưa, ở mức độ nào?
    - Dự thảo chương trình tổng thể đã kế thừa các chương trình GDPT của Việt Nam trước đây và trên tinh thần phát huy những ưu điểm và khắc phục những hạn chế đang tồn tại của nền giáo dục quốc dân.
    - Chương trình giáo dục phải đón đầu xu hướng phát triển của xã hội.
    - Cần tham khảo các nhà khoa học, chuyên gia giáo dục nước ngoài.
    - Giáo viên chưa được tiếp cận CT GDPT của các nước tiên tiến, và cơ sở vật chất, điều kiện học tập của học sinh chưa được tiếp cận.
    - Giáo dục cần đón đầu sự phát triển của xã hội, Dự thảo CT tổng thể mới có tiếp cận xu hướng phát triển nhưng chưa thấy rõ đều đó, cần lưu ý vấn đề này, có thể nói lâu nay GD nước ta đi sau sự phát triển của xã hội (Vấn đề này cần thao khảo ý kiến các nhà khoa học trong và ngoài nước)
    1.3. Dự thảo CT tổng thể có kế thừa các CT GDPT đã có của Việt Nam không, ở mức độ nào?
    - Có tính kế thừa ở vấn đề giáo dục phẩm chất và năng lực học sinh nhưng mức độ chưa nhiều. Tính đồng tâm trong chương trình chưa phù hợp.
    - Dự thảo chương trình tổng thể xây dựng trên tinh thần phát huy năng lực của người học là một định hướng có tính đổi mới phù hợp với xu hướng giáo dục hiện đại.
    - Có kế thừa, nhưng chưa có SGK nên chỉ đánh giá kế thừa 50%.
    - Dự thảo CT tổng thể có kế thừa các CT GDPT, nhưng mức độ chưa nhiều (môn Lịch sử vẫn còn tính Đồng tâm, hiện tại tính Đồng tâm không còn phù hợp với tình hình mới nữa)
    1.4. Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    - Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo chương trình tổng thể tương đối phù hợp tuy nhiên, có một vài điểm trùng lắp nên cần gộp thành 4 phẩm chất thay vì 6 phẩm chất.
    Cụ thể:
    + Yêu đất nước, yêu con người (gộp yêu đất nước và yêu con người thành một).
    + Chăm học, chăm làm (gộp chăm học và chăm làm thành một).
    + Trung thực.
    + Trách nhiệm.
    - Các phẩm chất và năng lực chung cần hình thành cho học sinh là phẩm chất đạo đức, tâm hồn và năng lực tư duy, trí tuệ khá phù hợp với đối tượng của từng cấp học.
    - Cần bổ sung phẩm chất: yêu thiên nhiên và có ý thức bảo vệ môi trường.
    - Các phẩm chất chủ yếu chưa phù hợp, cần bổ sung giáo dục đạo đức cho lớp 10.
    - Phẩm chất chăm học, chăm làm cần yêu cầu hiệu quả.
    - Chưa phù hợp, bổ sung phẩm chất tự trọng
    - Đầy đủ nhưng thêm phẩm chất: Tình thương…
    1.5. Các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    - Các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp.
    - Cần giảm bớt năng lực như năng lực hợp tác QT.
    - Đã phù hợp nhưng chưa đủ vì dự thảo chỉ dừng lại ở mức độ liệt kê nhưng năng lực và biểu hiện của năng lực, cơ sở để đánh giá phẩm chất năng lực nhưng chưa đưa ra giải pháp làm thế nào để đạt được các phẩm chất năng lực đó. Chính vì vậy cần thay đổi nội dung môn học, kiến thức cụ thể để giáo dục học sinh đi tới các phẩm chất năng lực đó.
    - 10 năng lực chung cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp. Ngoài ra, cần phát triển năng lực tư duy logic, tư duy phản biện hay quản lý tài chính cá nhân – là những năng lực cần thiết trong xã hội hiện đại.
    1.6. Các năng lực chuyên môn cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    - Các năng lực chuyên môn cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể là phù hợp.
    - Chuẩn phải phù hợp cho từng vùng, miền
    - Phù hợp, tuy nhiên mục 4.2 và 5.2 còn quá cao, trừu tượng…. so với lứa tuổi học sinh, cần điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn.
    + Phải có các tiết học thực hành, rèn luyện cho học sinh làm các thể loại thơ ca, truyện, tản văn đơn giản đến phức tạp theo các cấp học.
    + Cố gắng phát huy năng lực sáng tạo của học sinh, không gò bó học sinh, áp đặt học sinh tìm hiểu kiến thức theo ý chủ quan của người biên soạn sách giáo khoa và giáo viên. Phải tạo cho học sinh khả năng diễn đạt, phát biểu ý kiến trước mọi người ngay từ khi học tiểu học.
    + Phải tạo điều kiện để học sinh có thời gian , điều kiện học sinh tìm hiểu vốn ngôn ngữ, văn học địa phương một cách chủ động.
    1.7. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    - Phẩm chất yêu đất nước – yêu con người: cần gộp một vài biểu hiện để phù hợp với việc gộp 6 phẩm chất thành 4 phẩm chất như trên.
    - Biểu hiện yêu cầu về phẩm chất: cần xác nhập mục 3 (chăm học) vào mục 4 (chăm làm) thành mục chăm học, chăm làm “ Lý thuyết và thực hành đi đôi”
    - Trách nhiệm gia đình: Biết quan tâm đến các thành viên trong gia đình ở cả 3 cấp.
    1.8. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Cần bổ sung:
    Năng lực ngôn ngữ (Môn Tiếng Việt)
    + Sử dụng Tiếng Việt
    Đối với yêu cầu thể hiện ngôn ngữ qua chữ viết thì tốt, riêng yêu cầu thể hiện ngôn ngữ qua đánh máy thì khó và thừa đối với các trường không có phòng máy, các em khó có thể thực hiện được. Có thể đổi thành thể hiện ngôn ngữ qua chữ viết và qua văn nói, thuyết trình... (chuyển yêu cầu thể hiện ngôn ngữ qua đánh máy sang môn tin học).
    + Sử dụng ngôn ngữ
    Để đạt được năng lực bậc 1 về ngoại ngữ thì trong chương trình tổng thể phải cho lớp 1 và 2 học ngoại ngữ để làm quen với những kiến thức sơ đẳng về ngoại ngữ. Lên lớp 3,4,5 các em đã có kiến thức sơ đẳng để học chuyên sâu hơn thì mới có thể đạt được năng lực như trên.
    + Năng lực môn tự nhiên xã hội hoặc cuộc sống quanh ta: cần đưa thêm nội dung tìm hiểu và giáo dục về giới, phòng chống xâm hại tình dục.
    + Môn Công nghệ: yêu cầu cần đạt về năng lực giao tiếp không phù hợp với môn công nghệ. Cần thay đổi thành năng lực thuyết minh hoặc năng lực minh họa.
    - Biểu hiện yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp.
    - Đạt khoảng 50%, do trình độ nhận thức học sinh chưa cao.
    2. Kế hoạch giáo dục
    2.1. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Môn học bắt buộc có phân hóa chưa phù hợp vì môn thế giới công nghệ của lớp 1, 2 phân bổ thời lượng quá nhiều (4 tiết/tuần) cần giảm so với các lớp 3, 4, 5 hoặc không tổ chức dạy môn thế giới công nghệ ở lớp1,2 (có thể dành thời lượng này cho môn Tiếng Anh) chỉ dạy tin học và tìm hiểu công nghệ từ lớp 3.
    - Lớp 11, 12: Môn giáo dục quốc phòng và an ninh nên đưa vào bắt buộc có phân hóa.
    - Lớp 10: Số lượng môn học nhiều. Môn hoạt động nghệ thuật, thiết kế công nghệ không nên bắt buộc chuyển sang tự chọn.
    - Dự thảo CT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” là chưa hợp lý.
    - Ở cấp tiểu học chỉ nên chia thành các môn học bắt buộc và các môn học tự chọn. Cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông mới chia thành Các môn học bắt buộc, các môn học bắt buộc có phân hoá và các môn học tự chọn.
    - Dự thảo CT phù hợp nhưng có thể xảy ra tình trạng có môn học quá thừa hoặc quá thiếu giáo viên giảng dạy.
    - Bỏ hoặc chuyển bớt một số môn tự chọn bắt buộc thành môn học bắt buộc, do:
    · Hiện giờ học theo định kiến của xã hội.
    · Nếu phân hóa sớm: HS chọn xã hội sẽ bỏ tự nhiên và ngược lại.
    · Trong các môn tự chọn bắt buộc: HS sẽ chọn các môn xã hội không đồng đều, vd: HS chọn Sử, Địa và máy tính, không chọn GDCD.
    · Đội ngũ giáo viên sẽ có người dạy ít dạy nhiều.
    - Chuyển thể dục quốc phòng an ninh sang tự chọn bắt buộc.
    - Hiện tại chưa thực hiện được do :
    Thiếu cơ sở vật chất, thiếu giáo viên, đặc biệt giáo viên chưa đủ trình độ năng lực chuẩn.Hoàn cảnh của học sinh, học sinh không đủ thời gian để thực hiện do học quá nhiều môn.
    Về vấn đề này nên bỏ môn học tự chọn bắt buộc,vì lí do sau đây:
    - Tôi đồng ý định hướng nghề nghiệp cho người học, nhưng sẽ có tình trạng môn được học sinh chọn nhiều môn chọn ít theo định hướng xã hội và việc làm.
    - Nếu làm sớm từ lớp 1, học sinh chọn các môn tự nhiên sẽ bỏ xã hội và ngược lại, mặc dù kiến thức cơ sở đã được học từ lớp 1 đến lớp 10.
    - Trong số 11, 12 môn học tự chọn bắt buộc, người học sẽ bỏ các môn xã hội vì chọn có 3 môn trong số đó; hiện tại nền kinh tế thị trường người học có quyền lựa chọn môn để học.
    - Về đội ngũ GV có người bận nhiều việc có người ngồi không vì quá ít tiết dạy.
    + Thay vào đó xin ý kiến tăng các môn học bắt buộc có phân hóa (phần nào bắt buộc phần nào người học tự chọn)VD. Một bài học có 10 mục bắt buộc học 5 mục còn lại người học tự chọn tự nghiên cứu…
    Cần có kế hoạch thay đổi đồng bộ từ việc học đến thi tuyển. Hiện nay việc học của HS THPT được coi là để thi vào đại học, theo đuổi ngành nghề. Đa số các trường đại học thi tuyển theo các khối truyền thống trước đây, điều này dẫn tới các em HS sẽ ồ ạt chọn một hai môn nào đó dẫn đến GV có môn thừa, có môn thiếu. Năm khác nếu có thay đổi cách thi tuyển thì HS lại chọn môn lại và GV cũng phải thay đổi theo.
    Cần có sự đồng bộ cao từ khâu học đến khâu thi tuyển để HS và GV đỡ lo lắng vì chỉ cần một thay đổi nhỏ cũng có thể khiến HS và GV lao đao. Cần phân phối đều việc xét tuyển dựa vào các môn học để HS có thể chọn đều các môn, không xảy ra trường hợp năm nay thì ồ ạt chọn môn này, năm sau ồ ạt chọn môn khác. Cần lên phương án xử lí khi HS tâm lí không vững khi chọn môn học tự chọn, đứng núi này trông núi nọ (định hướng nghề từ lớp 10 thì vẫn còn sớm, nhiều em đến lớp 12 vẫn còn chưa hiểu rõ bản thân mình sẽ làm nghề gì trong tương lai), hoặc nếu được thì không cho phép chọn lại, phải học lại từ đầu.
    Nên cho HS được tự chọn tất cả các môn (trừ giáo dục thể chất, giáo dục pháp luật, quốc phòng, an ninh), miễn là đủ số môn phải chọn. Toán và ngữ văn quan trọng với học sinh, tuy nhiên chương trình 10 năm cũng đủ cho các em những kiến thức căn bản, cơ sở để các em vận dụng thực tiễn. Vì có học quá nhiều và nâng cao thì cũng không dùng đến, ví dụ học đạo hàm, vi phân, tích phân đối với một người sau này làm diễn viên, ca sĩ có ý nghĩa gì? Phân tích bài thơ theo lối áp đặt (cảm thụ là khả năng riêng của mỗi người) đối với một cô kế toán hay anh kĩ sư có tác động gì lớn lao? Một số em tư duy toán học không cao nhưng các em có những kĩ năng khác, nếu bắt buộc các em học môn này thì không có tác dụng gì.Chương trình giáo dục hiện nay có thể nói là cồng kềnh, nhiều nội dung không thiết thực khi ra ngoài đời sống.
    Nếu đã định hướng nghề nghiệp có nghĩa là sau này HS sẽ lựa chọn môn học mà nghề nghiệp đó cần sau này, vì vậy chọn môn nào sẽ khiến HS giảm bớt được thời lượng học lí thuyết khi học đại học, có thể tăng thời gian thực hành khi học ở bậc đại học mà không cần phải mất thời gian đào tạo lí thuyết.
    Bỏ tự chọn bắt buộc khi học sinh đã học xong các môn cơ bản ở lớp 10, để cho học sinh tự chọn theo nguyện vọng, vì bắt buộc học cũng không đem lại hiệu quả cho bản thân học sinh.
    Ở môn học bắt buộc có phân hóa, HS sẽ chọn 3 hoặc 4 môn học trên.Môn Nghệ thuật (Âm nhạc và Mỹ thuật) tổng cộng 70 tiết.Nếu học sinh chọn môn Nghệ thuật thì HS sẽ học 1 trong 2 môn trên hay học cả 2 môn. Đây là 2 môn năng khiếu hoàn toàn khác nhau, nếu gộp chung lại để HS học cả 2 môn thì rất khó cho HS. Vì vậy nên phân biệt rõ tên môn học là Âm nhạc, Mĩ thuật thay vì là môn Nghệ thuật.
    - Ở khối 10, môn hoạt động nghệ thuật cần xác định rõ bao gồm những môn gì, bởi vì môn Mỹ thuật và Âm nhạc cũng thuộc môn hoạt động nghệ thuật. Nếu lớp 10 học sinh chọn môn nghệ thuật khác môn Mỹ thuật và Âm nhạc thì lớp 11, 12 học sinh chọn thì phải học thêm một môn nghệ thuật khác nữa.
    - Cần phân tích rõ hơn về các môn tự chọn bắt buộc, nếu lớp 11 học sinh chọn môn này thì lên lớp 12 học sinh có được đổi môn không?
    - Ở lớp 11, 12, phần 2.có các môn tự chọn bắt buộc( học 3 môn và 1 chuyên đề), phần 3. có các môn học tự chọn, học sinh không chọn học được không?.
    - Nếu được môn ngoại ngữ 2 cũng bắt buộc để đối tượng học sinh nếu yếu về Tiếng anh thì cũng biết một thứ tiếng khác, còn không thì bỏ luôn( chỉ học 01 ngọai ngữ).Theo mục 1.2 Môn ngoại ngữ trang 13 của dự thảo có ý nêu: “Ngoại ngữ 2 là môn học tự chọn, có thể bắt đầu từ lớp 6 và kết thúc ở bất kỳ lớp nào tùy theo nhu cầu của học sinh và khả năng đáp ứng của cơ sở gíao dục”. Nếu được ta bỏ từ “ có thể” , phải bắt đầu từ lớp 6 thì khả thi hơn, bởi ngoại ngữ phải học từ căn bản và theo giáo trình, học sinh không học từ cấp 2 mà lên lớp 11 đăng ký học thì phải dạy sao đây?
    - Lịch sử là môn học khá quan trọng, nếu xếp vào các môn tự chọn bắt buộc mà học sinh không đăng ký thì cũng khó. Nên chăng ta tích hợp kiến thức bộ môn này vào môn Giáo dục quốc phòng( tăng số tiết Giáo dục quốc phòng vì đây là môn bắt buộc).
    - Môn Tin học cũng rất cần thiết cho thời đại mới nên chăng ta đưa vào môn bắt buộc.
    - Ở lớp11, 12 có nội dung chuyên đề học tập 15 tiết, cần xem lại bởi vì có rất nhiều chuyên đề học tập khác nhau( khó bố trí người hướng dẫn) mà thời lượng có 15 tiết thì quá ít để học sinh lĩnh hội.
    - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là rất cần thiết cho học sinh, song ai sẽ là người hướng dẫn học sinh thực hiện? Chi phí dành cho hoạt động này như thế nào?( nếu thu tiền học sinh thì có ổn không?). Nên chăng ghép hoạt động trải nghiệm sáng tạo và hoạt động hướng nghiệp là một?
    - Nội dung chương trình Ngữ văn hiện nay nặng về kiến thức lí thuyết, chưa chú trọng nhiều đến thực hành và nội dung giáo dục địa phương. Nên mạnh dạn bỏ bớt những nội dung của văn học trung đại xa lạ, khô khan với học sinh, thay vào đó là những văn bản văn học hiện đại hiện nay để học sinh yêu thích hơn.
    - Nên chú ý hơn nếu việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong học sinh thông qua môn Ngữ văn, vì đây là môn học có tính chất công cụ nên rất dễ dàng tích hợp. Nên tăng cường những tiết học về kĩ năng nói, trình bày, kĩ năng phản biện vấn đề. Nên để GV tự do chọn đề tài cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của từng trường.
    Có thể ở cấp Tiểu học chỉ cần chia làm hai nhóm: các môn họcbắt buộc và các môn học tự chọn
    - Môn “Giáo dục kinh tế và pháp luật” nên giữ nguyên tên là “Giáo dục công dân”
    - Việc cho phép học sinh lớp 11 và 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn một chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo CT tổng thể) phù hợp với định hướng giáo dục hướng nghiệp nhưng làm phát sinh khá nhiều khó khăn đối với giáo viên và các cơ sở giáo dục.
    2.2. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của CT GDPT tương đương với 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    - Số tiết trong tuần quá nhiều, không phù hợp với những trường học 2 buổi/ngày.
    - 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn chưa hợp lý.
    - Tăng thời lượng học môn ngoại ngữ 1 từ 105 tiết lên 140 tiết/năm.
    - Các hoạt động ngoài giờ, trải nghiệm sáng tạo trong CT chưa rõ nét.
    - Dự thảo CT tổng thể nêu: “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của CT GDPT tương đương với 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương” là hợp lý.
    - Phù hợp, môn lịch sử cần dàn trải nội dung đều cho 4 khối lớp. Lịch sử 9 cần có tiết ôn tập cho KTHK.
    - Môn KHTN khối 6,7 cần giảm tải.
    - Thầy Giáp (Toán): Số lượng tiết từ 29-30/tuần là qúa nhiều.
    - Ảnh hưởng đến khối lượng công việc của giáo viên và thời gian giáo viên tự bồi dưỡng trong hè, thời gian học sinh học nhiều hơn nên ảnh hưởng đến việc vui chơi và nghỉ hè của học sinh.
    Thời gian các môn tự chọn và Địa phương cần tăng thêm.
    Nội dung tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 2 dạy 60 tiết/ năm quá ít vì đối với Ngoại ngữ 1 dạy 105 tiết/ năm nhưng kết quả vẫn chưa khả quan.
    - Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục của từng lớp, của mỗi cấp học là nhiều. Những môn như “Tiếng dân tộc thiểu số”, “Ngoại ngữ 2”, “Nội dung giáo dục của địa phương” nên giảm bớt.
    2.3. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học nhiều hay ít? Nếu nhiều (ít) thì nên giảm (tăng) như thế nào?
    Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của cấp tiểu học tương đối phù hợp, tuy nhiên tên môn còn chưa rõ, (các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, hoạt động trãi nghiệm sáng tạo, nội dung giáo dục địa phương…).
    - Các môn tự chọn bắt buộc ở lớp 11 có thể thay đổi lựa chọn khi lên lớp 12 không?
    - Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học là nhiều. Những môn như Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 2, Nội dung giáo dục của địa phương, nên giảm bớt.
    - Dự thảo có quá nhiều môn học, vd: lớp 10 có 16 môn, quá nặng cho học sinh trong định hướng nghề nghiệp
    - Nên dành cho học sinh nhiều thời gian để tự học, tự nghiên cứu.
    - Phù hợp, chưa thể hiện sự thay đổi
    -Phù hợp (17 môn cũ, mới 12 môn), nội dung chương trình phù hợp với các môn ghép.
    - Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học nhiều, chưa phù hợp về số tiết của một số môn như : Công Nghệ, Hướng Nghiệp, có thể thay thế bằng những tiết rèn luyện kỹ năng sống.
    + Thực tế Dự thảo CT tổng thể có quá nhiều môn học (lớp 10 cả tự chọn và bắt buộc có 17 môn học, có nặng quá không), đã là giáo dục phổ thông thì là nặng, có những môn học ở cấp cao hơn như: nghề, cao đẳng, đại học cũng có.
    + Vấn đề không nằm ở số lượng môn học mà là nội dung chương trình được thiết kế có phù hợp với năng lực của học sinh đồng thời vẫn tăng được hứng thú cho học sinh khi tiếp cận với tri thức mới.
    + Ở cấp THPT, lớp 10, số lượng môn học bắt buộc là 15 môn.Theo tôi nên giảm xuống còn 13 môn. Cụ thể đưa 2 môn: hoạt động nghệ thuật và thiết kế công nghệ sang nội dung tự chọn.
    + Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học là nhiều, nên giảm nội dung tinh gọn, bớt thời lượng lý thuyết.
    + Số lượng các môn học ở từng lớp mỗi cấp học vẫn còn nhiều, cần phải làm thế nào để phát huy được hết khả năng của người học, môn học thì mới có hiệu quả. Nếu là những môn bắt buộc thì phải có ý thức đầu tư chú trọng những môn đó cho phù hợp.
    + Chương trình quy định các môn học bắt buộc ở các cấp, nhưng lại không nêu rõ ở mỗi cấp học sinh phải chọn thêm (tối thiểu) bao nhiêu môn và chỉ được chọn thêm (tối đa) bao nhiêu môn (để không bị quá tải, gây phân tán học lực)?
    + Số lượng các môn học bắt buộc quá nhiều so với các hệ thống giáo dục tiên tiến. Ở các cấp Trung học của Anh, Mỹ, Đức…, tổng số các môn học của học sinh chỉ 6-8 môn, trong đó khoảng một nửa là các môn bắt buộc, một nửa là các môn tự chọn. Ví dụ, tại Singapore, ở cấp Trung học cơ sở theo luồng Lý thuyết/Hàn lâm, học sinh học 6-8 môn, với 3 môn bắt buộc là Toán, Tiếng Anh, Tiếng mẹ đẻ; theo luồng Kỹ thuật/Ứng dụng, học sinh học 5-7 môn, với 4 môn bắt buộc là Toán, Tiếng Anh, Tiếng mẹ đẻ, Tin học (nguồn: website Bộ Giáo dục Singapore, moe.gov.sg). Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy: các môn học mang tính hướng nghiệp của học sinh Singapore không nằm trong số các môn học bắt buộc!
    + Cách tiếp cận đối với các môn học bắt buộc và các môn học tự chọn, nên thực hiện như sau: cơ quan quản lý xác định các môn học tối thiểu học sinh cần phải học khi chọn đi theo một luồng giáo dục cụ thể (để hình thành con người toàn diện, cho dù học sinh có năng khiếu, thế mạnh về các môn học đó hay không), còn học sinh tự chọn thêm cho mình các môn học mà học sinh có năng khiếu, thế mạnh, có nhu cầu theo đuổi mang tính hướng nghiệp. Khi bắt học sinh phải học quá nhiều môn học, chúng ta sẽ tiếp tục tạo ra những thế hệ người Việt Nam “cái gì cũng biết, nhưng không biết sâu cái gì cả”. Nhà trường không thể dạy cho học sinh biết tốt tất cả mọi thứ. Nhà trường chỉ nên tập trung dạy cho mỗi học sinh biết thật tốt một số thứ, đồng thời dạy cho học sinh phương pháp tự học để học sinh có thể học những thứ khác không nằm trong chương trình học.
    + Theo tập thể tổ, các môn học bắt buộc ở hai cấp Trung học không nên quá 5 môn, tổng số môn học Trung học không quá 8 môn, để dạy và học thật sâu.
    + Đề nghị đặt mục tiêu biến Việt Nam thành một nước có mặt bằng trình độ tiếng Anh cao thứ hai trong khu vực ASEAN (chỉ thua Singapore), thông qua việc chọn môn Tiếng Anh là môn học bắt buộc ở cả ba cấp học, đồng thời thực hiện việc dạy và học một số môn học ở cấp Trung học bằng tiếng Anh. Các ngoại ngữ khác được coi là Ngoại ngữ 2 đối với học sinh. Khi học sinh đã học giỏi Tiếng Anh thì việc học thêm một ngoại ngữ khác là không quá khó khăn, học sinh có thể học tốt Ngoại ngữ 2 ở trường và học thêm ở các trung tâm dạy ngoại ngữ.
    2.4. Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của cấp tiểu học dài dòng khó hiểu. Như môn:
    + Tìm hiểu xã hội lớp 4, 5 chỉ cần ghi môn Xã hội để gần gũi với tên gọi môn Lịch sử, Địa lý ở THCS.
    + Tìm hiểu Tự nhiên lớp 4, 5 chỉ cần ghi môn Tự nhiên.
    + Thế giới công nghệ lớp 1, 2, 3 và Tìm hiểu công nghệ lớp 4, 5 chỉ cần ghi môn Công nghệ
    + Hoạt động trãi nghiệm sáng tạo và tự học có hướng dẫn không gọi là môn học mà gọi là hoạt động giáo dục.
    - Các môn học khối 11,12 chưa hợp lý: Khoa học máy tính và tin học ứng dụng. Đề nghị nhập thành một môn: Tin học, đồng thời giảm số tiết từ 280 tiết/ năm còn 140 tiết/ năm.
    - Các môn khoa học máy tính, thiết kế công nghệ có phù hợp với CT giáo dục tổng thể không?
    - Môn Giáo dục kinh tế và pháp luật nên giữ nguyên tên là môn Giáo dục công dân.
    -Thầy Giáp (Toán): Môn trải nghiệm sáng tạo nên tích hợp vào từng môn học, từng bài.
    - Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học chưa hợp lý. Nên thay thế môn “Công Nghệ và Hướng Nghiệp” thành “ Rèn luyện kỹ năng sống”
    Nên thay đổi “Cuộc sống quanh ta” (bậc Tiểu học) bằng “Thế giới quanh ta” (phạm vi nội dung kiến thức sẽ bao quát, đề cập đến được nhiều khía cạnh).
    Nên thay đổi: “Thế giới công nghệ” (bậc Tiểu học) bằng “Thường thức công nghệ” (phạm vi nội dung kiến thức sẽ nhẹ nhàng hơn).
    2.5. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Thời lượng giáo dục của từng môn học ở từng lớp của mỗi cấp học là chưa hợp lý. (đề nghị cần quy định chung thời lượng cho 1 tiết học ở cấp tiểu học là 35 -> 40 phút cho toàn cấp thay vì phân hóa 1,2,3: 30-35; 4,5: 35-40 để nhà trường dễ dàng quản lý giờ học, giờ chơi, giờ nghỉ chuyển tiết giữa các môn bộ môn cho đồng bộ)
    (Yêu cầu trường 2 buổi/ngày không quá 7 buổi trên tuần không phù hợp, thời lượng dạy học còn dành nhiều hoạt động khác như sinh hoạt lớp, sinh hoạt sao nhi đồng, Đội thiếu niên,…Thực tế chương trình hiện hành ở các trường hiện nay đã thực hiện thời lượng 8 tiết /1 ngày đối với trường 2 buổi)
    Kiến nghị: Trường 1 buổi/ ngày có thể học 6 buổi trên/ tuần, trường 2 buổi trên ngày không quá 8 tiết/ngày
    - Thời lượng môn học dành cho tự chọn tương đối nhiều(khối 11,12), cần điều chỉnh từ 140 tiết/ năm xuống còn 105 tiết/năm. Tăng tiết môn toán, ngữ văn theo hướng vận dụng kiến thức cơ bản.
    - Việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo CT tổng thể) phù hợp với định hướng giáo dục hướng nghiệp nhưng làm phát sinh khá nhiều khó khăn đối với giáo viên và các cơ sở đào tạo.
    - Môn Lịch sử lớp 10 nên tăng 3 tiết/tuần – tổng số 105 tiết/năm (Rút lại CT lớp 11 để cân đối chương trình).
    - Nên có thêm thời lượng cho tự học có hướng dẫn.
    - Nâng thời lượng môn Ngoại ngữ 1 từ 105 tiết/năm lên 140 tiết/năm cho cấp THCS và THPT để tăng cường thực hành giao tiếp cho học sinh.
    - Chưa hợp lý vì ở tiểu học tổng số các môn học không giảm mà còn tăng thêm không ít các môn Giáo dục lối sống, Thế giới công nghệ…trong khi yêu cầu của bậc Tiểu học chỉ cần nắm bắt kiến thức sơ đẳng nhất. Do đó cần giảm tải chương trình.Ở cấp THCS cần giảm tải các kiến thức không có ứng dụng thực tiễn trong đời sống.
    - Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học chưa hợp lý: Để học sinh đạt được trình độ A2 ở môn ngoại ngữ nên tăng thời lượng tiết học thành 4 tiết/ tuần.
    - Nên điều chính số tiết của môn Tin học cấp THCS thành 70 tiết/năm.
    - Các môn học tự chọn, nội dung giáo dục địa phương giảm số tiết xuống 35 tiết/năm.
    - Môn Lịch sử THPT trong đó lớp 10 ít nhất có thể tăng lên 105 tiết nếu không còn thì có thể chuyển bớt ở khối 11 (khối 11: 70 tiết, khối 12: 105 tiết mới hợp lí) vì khối 11 và 12 sẽ rất ít học sinh chọn học, nếu như chương trình và sách giáo khoa biên soạn không hấp dẫn.
    2.6. Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy học nội dung giáo dục của địa phương”. Quy định như vậy đã hợp lý chưa?Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Dự thảo nêu “ Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và nội dung giáo dục địa phương” là chưa hợp lý (Ở nội dung Giáo dục địa phưuơng) vì giáo dục địa phương cũng là 1 phần quan trọng trong việc giới thiệu lịch sử, địa lý của mỗi địa phương. Đề nghị lồng ghép việc giáo dục địa phương vào 1 tiết Hoạt động trãi nghiệm sáng tạo/1 tuần.
    - Các trường không đủ CSVC để giảng dạy 2 buổi/ngày.
    - Thiếu định mức tiết dạy/tuần
    - Phần dạy học nội dung giáo dục của địa phương nên dành thêm thời gian cho phần này. Vì như vậy, học sinh mới có dịp tiếp cận với nội dung giáo dục của địa phương cặn kẽ, tường tận hơn giúp các em thấy kiến thức sách vở gần gũi với thực tế đời sống, đặc biệt là quê hương mình
    2.7. Theo Thầy (Cô), việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo CT tổng thể) phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường có ưu điểm gì, hạn chế gì?
    - Sẽ có ít người học ở hai chuyên ngành Sử, Địa.
    - Đặc biệt trong bối cảnh hiện tại cần giáo dục LS, DL kỹ hơn.
    - Môn học tự chọn bắt buộc giúp người học chọn môn mình thích, phù hợp với nền kinh tế tri thức, khoa học 4.0
    - Các môn còn lại như Lịch sử, Địa lý ít được quan tâm vì phân hóa sớm, cần cân đối giữa các cấp học. Đề nghị đưa lên bắt buộc.
    - Thiếu GV dạy các môn mới trong CT.
    - Học sinh khối 11,12 tự chọn một chuyên đề và 3 môn học có thể dẫn đến hạn chế: Biên chế GV trường không ổn định, dẫn đến khó khăn trong công tác tổ chức lớp học.
    -Ưu điểm:
    Ưu điểm của việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo CT tổng thể):
    - Học sinh được giáo dục định hướng nghề nghiệp, đảm bảo học sinh tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng.
    Phù hợp, phân hóa được trong tình hình mới.
    Phù hợp với năng lực học sinh, học sinh được học theo nhu cầu, giảm áp lực, định hướng được nghề nghiệp.
    + Môn học tự chọn bắt buộc3/11 có ưu điểm là người học lựa chọn được những môn học mình thích, phù hợp với xu thế của kinh tế thị trường nhất là cuộc cách mạng 4.0 đang diễn ra, vì cuộc sống ai cũng muốn chiếm lĩnh nó. Các môn: Lí, Hóa, Sinh và chuyên đề học tập sẽ được nhiều học sinh lựa chọn.
    + Đối với học sinh sẽ cảm thấy hứng thú, say mê với các chuyên đề và 3 môn học mình học tập vì chuyên đề và 3 môn đó các em am hiểu tường tận, kiến thức vững vàng thì khả năng phát huy sức sáng tạo ở các em rất cao, các em sẽ đi sâu vào nghiên cứu nội dung.
    + Đối với nhà trường sẽ chủ động trong việc quản lý, giáo dục học sinh.
    + Giáo dục định hướng nghề nghiệp bảo đảm học sinh tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng.
    - Hạn chế:
    Việc bố trí dạy và học sẽ gặp khó khăn vì giáo viên dạy các môn học có số lượng học sinh chọn ít sẽ dư và giáo viên dạy các môn học có số lượng học sinh chọn nhiều sẽ thiếu. Ngoài ra, số lượng học sinh tự chọn sẽ không cố định theo từng năm.
    Chưa đảm bảo mục tiêu giáo dục toàn diện
    Xảy ra tình trạng thừa và thiếu giáo viên; khó khăn trong việc sắp xếp lịch học và cơ sở vật chất chưa đáp ứng được.
    + Các môn còn lại, đặc biệt là Lịch sử và Địa lí ít được quan tâm đó là hạn chế lớn của chủ trương này, mà phân hóa sớm 11, 12 có 210 tiết thì quá lớn; nếu không tăng Lịch sử và Địa lí học bắt buộc lên để cân đối, sẽ có tình trạng dư thừa giáo viên 2 môn này.
    +Các em sẽ không phát triển toàn diện, học lệch ảnh hưởng đến sự hiểu biết những vấn đề xảy ra xung quanh mình.
    Học sinh sẽ có thời gian, kiến thức sâu về năng lực của mình, sau này phục vụ cho hướng phát triển của ở bậc cao hơn, vì nếu học đại trà, dàn trải sẽ quá nặng nề, mất thời gian và chỉ thi để lấy điểm, sau đó học sinh cũng không lưu lại được gì nhiều khi không chọn những môn đó cho hành trang nghề nghiệp chuyên sâu về sau… Hạn chế là phải có tầm nhìn khoa học để sắp giáo viên dạy học.
    Sự phân luồng của DT dường như vẫn chủ yếu tập trung cho các em thi đại học, theo kiểu: “thi gì học đấy” ,sẽ dẫn đến việc học sinh học lệch.
    + Việc bố trí dạy và học có khó khăn, giáo viên dạy các môn học sinh tự chọn ít sẽ biến động theo số lượng học sinh tự chọn không cố định theo từng năm.
    Có hiện tượng ít người học chọn 2 môn Sử, địa như đã nêu ở trên, vì 2 môn này cơ hội việc làm ít, các tổ hợp môn đầu vào của các trường ít tuyển. chú ý điều này nếu không phải mất 20 năm mới sửa được, 20 năm là cả 1 thế hệ, trong khi bối cảnh thế giới và khu vực diễn biến phức tạp.
    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Dự thảo CT tổng thể nêu: “Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GDĐT được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    - Ở lớp 11 và lớp 12, việc đề xuất các trường xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc tự chọn để học sinh tự chọn 3 môn từ các tổ hợp này, còn nhiều bất cập, dẫn đến sự xáo trộn trong việc xếp thời khóa biểu và phân công giáo viên giảng dạy.
    - Một số môn học mới như: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Hoạt động nghệ thuật, Mỹ thuật …khi áp dụng vào thực tế giảng dạy chắc chắn sẽ còn nhiều khó khăn cần giải quyết và điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên sẽ chưa đáp ứng kịp yêu cầu.
    - Cần nâng điểm liệt môn tiếng Anh ở kỳ thi Tốt nghiệp Trung học phổ thông quốc gia từ 1 điểm như hiện nay lên 3 điểm để học sinh chú trọng và đầu tư học thực chất và thi thực chất.
    - 90%:Hợp lí
    - 10%: Chưa hợp lí, dễ mang tính chủ quan
    - Việc đánh giá cần quy định rõ hơn về điểm lẻ
    Thống nhất theo dự thảo, nhưng phải có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của các cấp lãnh đạo để tạo sự công bằng, khách quan giữa các cơ sở giáo dục, các vùng miền và phải đảm bảo chất lượng.
    Dự thảo mới hướng đến việc không tổ chức thi tốt nghiệp phổ thông là đúng, vì để vượt qua kỳ thi này, học sinh thường phải học hành rất chăm chỉ.Tuy nhiên, nhiều em thường quên hết những gì mình đã học sau khi vượt qua được kỳ thi.Mặc khác, bản thân con đường vào đại học đã có khả năng xếp loại những người có năng lực và những người không rồi. Nhà trường hoàn toàn đồng ý với việc giáo dục phổ thông nên định hướng nghề nghiệp cho học sinh; chuyện này là vô cùng quan trọng, bởi vì việc một học sinh lớp 12 phải chọn một chuyên ngành/nghề nghiệp để có thể theo mình suốt đời không phải là việc dễ dàng.
    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CT GDPT
    1. Quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    - 24 – 30 học sinh/lớp.
    - Cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT. Lớp học không quá 35 học sinh.
    - Số lớp học phải phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.
    - Nhóm GDCD: Thay đổi điều lệ trường trung học về số lượng HS (24 – 30 học sinh/lớp và theo lộ trình.
    - Quy định sĩ số HS mỗi Lớp 30 là phù hợp.
    - Cần phải quy định rõ ràng số HS của một lớp học. Nếu giảm sĩ số thì có thể áp lực cho cơ sở vật chất.Tuy vậy nên có xu hướng giảm sĩ số để giáo viên có điều kiện tiếp cận với HS nhiều hơn. Lớp quá đông thì GV không thể bao quát hết được.
    2. Quy định hiện hành về số lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    + Về số lượng đội ngũ: không xác định được số lượng để thực hiện chương trình tổng thể (Do chưa có số tiết cụ thể và Số học sinh đăng ký các môn bắt buộc và môn tự chọn khác nhau, Một số môn mới hiện không có giáo viên như môn Công nghệ, Nghệ Thuật, Trải Nghiệm sáng tạo, Thiết kế CN, GD kinh tế và pháp luật, một số môn mới và ghép )
    + Về chất lượng: giáo viên đạt chuẩn rất cao, chương trình mới nghiên về định hướng phát triển năng lực, hiện giáo viên mới chưa được bd và còn giáo viên cũ chưa được cập nhật
    - Nên có chỉ đạo rà soát toàn bộ đội ngũ giáo viên để có hướng đào tạo mới theo nhu cầu, có kế hoạch bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên hiện có à nên có thời gian giãn ra để chuẩn bị chu đáo.
    Quy định hiện hành về số lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới như: cần bổ sung thêm số lượng giáo viên Tiếng Anh ở cấp Tiểu học vì số tiết Tiếng Anh tăng gấp đôi so với hiện hành (từ 2 tiết lên 4 tiết/ tuần đối với lớp 3,4,5).
    - Môn học thay đổi cần thực hiện trước tại các trường Sư phạm đào tạo giáo viên.
    - Đào tạo lại giáo viên chưa có việc làm ở các bộ môn phù hợp với chương trình mới.
    - Thay đổi phải phù hợp với cơ cấu chương trình môn học.
    - Cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới. Tinh giảm số giáo viên năng lực kém, không chịu thay đổi để đáp ứng với nhu cầu thay đổi của chương trình giáo dục, chấm dứt hợp đồng với những giáo viên không đạt yêu cầu sau bồi dưỡng.
    - Cần bồi dưỡng chuyên môn kịp thời.
    - Đề nghị 2 gv/lớp
    - Cần đào tạo giáo viên đúng chuyên môn về trải nghiệm sáng tạo.
    - Giảm số tiết hàng tuần của GV THPT là 15 tiết/ tuần.
    - Môn học thay đổi, đáng lí phải làm sớm để các trường đại học sư phạm đào tạo giáo viên ở những môn học mới, có thể tạo cơ hội cho số giáo sinh ra trường nhưng thất nghiệp đào tạo lại để học có cơ hội đứng lớp.
    - Cần giảm tiết quy định cho GV để GV đầu tư vào phương pháp. Dạy nhiều tiết đồng nghĩa với việc GV không có thời gian đầu tư phương pháp giảng dạy, dẫn đến tiết học thu động. Hiện nay lượng GV dư thừa rất nhiều, giảm tiết đồng nghĩa với tạo công ăn, việc làm cho nhiều người.Không nên vì sợ gánh nặng ngân sách vì đầu tư cho giáo dục không bao giờ thừa.
    - Nếu thực hiện dạy liên môn thì nên tổ chức các phòng thực hành, thí nghiệm theo liên môn cho phù hợp.
    - Bồi dưỡng thêm cho đội ngũ cũ hiện nay về tích hợp liên môn đã được triển khai bước đầu nhưng nếu thực hiện một cách gượng ép buộc giáo viên phải “cõng” thêm phần kiến thức, kỹ năng của môn học tích hợp, giáo viên sẽ quá tải. Và tình trạng thầy dạy biến thành “thợ dạy” sẽ diễn ra.
    - Đề nghị tăng biên chế giáo viên từ 1.9 lên 2.0 giáo viên/lớp ( bậc THCS), cần có giáo viên dạy mô trải nghiệm sáng tạo
    - Giáo viên các môn Mỹ thuật- Âm nhạc- Thiết kế và công nghệ - Khoa học máy tính-Giáo dục kinh tế cần phải bổ sung.
    Giáo viên các môn Mỹ thuật, Âm nhạc, Thiết kế-công nghệ, Khoa học máy tính, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cần bổ sung.
    - Đội ngũ giáo viên cần phải đào tạo lại để phục vụ CTTT
    - Một số đơn vị cho học trước chương trình QP trong hè mà không thực hiện đúng PPCT,
    - Công tác GDTC đã phân bố phù hợp: mà thực hiện đúng mới đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực thể chất, giống hiện nay nhưng các trường thường không thực hiện đúng,
    - Về lý thuyết các môn tự chọn: phải có đầy đủ giáo viên.
    3. Quy định hiện hành về cơ sở vật chất trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    - Biên soạn, trang bị hệ thống sách tham khảo điện tử trong từng phòng học hoặc phòng học bộ môn.
    - Thay vì bố trí phòng học như hiện nay (giáo viên di chuyển tới phòng học cố định của từng lớp) thì cần thay đổi như sau: học sinh sẽ di chuyển đến phòng học bộ môn tương ứng mỗi khi có tiết môn đó, ví dụ như môn ngoại ngữ, để đạt hiệu quả giảng dạy theo đặc thù của từng bộ môn.
    - Nhóm Sử: Cần trang bị CSVC, phương tiện phù hợp với chương trình mới.
    - Nhóm Địa:Trang thiết bị dạy học, CSVC phải phù hợp, thể hiện sự công bằng giữa các vùng, miền.
    - Cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới, cần chuẩn hóa cơ sở vật chất, không ngừng bổ sung các thiết bị phục vụ cho việc dạy và học, tạo đều kiện cơ sở vật chất để các trường học hai buổi nhằm giảm áp lực cho phụ huynh học sinh.
    - Cần bổ sung CSVC để đảm bảo đồng điều giữa các địa phương, phù hợp với quy mô trường lớp.
    - CSVC phục vụ cho học tập chưa phù hợp (bàn ghế ở một số trường chưa phù hợp với lứa tuổi), trang thiết bị dạy học chưa đồng bộ, chất lượng kém… Vì vậy cần thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tế phát triển của giáo dục PT mới.
    - Về cơ sở vật chất cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới đó là tương tác sư phạm thông qua ứng dụng CNTT. Cần hỗ trợ mỗi lớp học: micro, loa, máy chiếu, máy tính … kết hợp với bảng phấn. Đối với môn Anh Văn cần không gian hợp lý để tổ chức các hoạt động chuyên môn.Bàn ghế phải mang tính cơ động cao. Trong lớp cần các đồ dụng dạy học như: Bảng phiên âm Quốc tế, Bảng tóm tắt các thì, bảng đồ thế giới, hướng dẫn kỹ năng nghe-đọc-viết-nói, tranh ảnh…
    - Về CSVC: địa phương rất khó khan để thực hiện CTTT, theo các quy định hiện hành đã không còn phù hợp khi áp dụng với CTTT
    - Trang 28: Các hoạt động quản lý đang thực hiện theo các quy định hiện hành đã không còn phù hợp.
    - Về CSVC thiết bị giáo dục: Đề nghị rõ mức tối thiểu cụ thể như diện tích các mô hình để thực hiện dễ dàng hơn khi áp dụng chương trình mới.

    4. Quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới như : Cần sửa đổi điều 10 khoảng 4 mục b của thông tư 55 cho phù hợp: Hội phí của Ban đại diện cha mẹ học sinh được sử dụng để phục vụ học sinh một cách trực tiếp và gián tiếp, trên cơ sở sự đồng thuận của Ban đại diện CMHS trường, lớp.
    - Cần dân chủ và minh bạch.
    - Tăng cường đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường.
    + Mạnh dạn hơn trong việc huy động sự đóng góp của Phụ huynh học sinh và các hoạt động giáo dục của nhà trường.
    - Đề xuất góp ý trong tâm vào quan điểm xây dựng chương trình, mục tiêu nhân cách (phẩm chất, năng lực) , yêu cầu cần đạt, kế hoạch giáo dục (vẫn giữ nguyên hệ thống giáo dục 3 cấp, nhưng cấp tiểu học gộp lại thành giáo dục cơ bản thống nhất cho GDQP là môn bắt buộc, và môn Trải nghiệm sáng tạo là môn bắt buộc có phân hóa,
    - Thống nhất sự phân hóa theo định hướng nghề nghiệp
    - Cần góp ý về điều kiện để thực hiện: ví dụ kinh phí, dành kính phí thích đáng để chuẩn bị cho chương trình tổng thể, cần có kih phí bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên và quản lý, cần có sự tương tác chương trình giữa những người thực hiện và các cấp quản lý.

    5. Đối với trường tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày cần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 - 2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022- 2023 dạy học 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp tiểu học” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Đối với trường tiểu học, dự thảo chương trình tổng thể nêu: “Cấp trường chưa đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày cần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 – 2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022 – 2023 dạy học 2 buổi/ ngày cho tất cả các lớp tiểu học” chưa hợp lý (vì điều kiện Bình Dương do tăng dân cơ học nên CSVC chưa đáp ứng đủ để năm học 2018 – 2019 dạy 2 buổi/ngày cho lớp 1, thậm chí có nhiều trường phá vỡ 2 buổi đối với lớp 1).
    - Chưa hợp lí về cơ sở vật chất, cần tăng cường CSVC.
    - Thiếu cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên ở một số địa phương, nên kéo dài lộ trình.
    - Cần cho HS tiểu học học 2 buổi/ngày và tổ chức bán trú.
    - Chưa hợp lý vì hiện nay còn rất nhiều trường chưa đủ điều kiện để học sinh học thông thường (vẫn còn nhiều nơi học 3 ca, phòng học vách lá…) Vì vậy để thực hiện đượcc điều này cần có lộ trình xa hơn.
    6. Ở lớp 11 và lớp 12, việc đề xuất các trường xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc tự chọn (để học sinh tự chọn 3 môn từ các tổ hợp này) nhằm đáp ứng nhu cầu của người học đồng thời phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    - Sẽ có học sinh chọn 3 trong 11 môn tự chọn bắt buộc. Cần xem lại các môn tự chọn bắt buộc nhằm trả lời câu hỏi: học ra để làm gì, có sống được với nghề mình chọn hay không?
    - Mỗi hs sẽ chọn các tổ hợp môn khác khau trong mỗi năm học sẽ gây khó khăn trong việc bố trí biên chế, sắp xếp lớp học...
    - Bộ GDĐT cần quan tâm đến cơ hội việc làm cho các môn Sử, Địa.
    - Bộ GDĐT cần đổi mới các trường SP trước.
    - Lớp 11, 12 các tổ hợp môn chưa hợp lý. Do đội ngũ giáo viên các môn mới chưa có; dư giáo viên…
    - Cơ sở vật chất hiện tại chưa đáp ứng đ/v mỹ thuật, âm nhạc.
    + Nội dung này cần xem lại học sinh chọn 3/11 môn tự chọn bắt buộc, sẽ có những môn học sinh không chọn vì chỉ chọn 3 trong 11 môn đó. Thời kinh tế thị trường họ phải trả lời được câu hỏi học ra để làm gì, có thể sống được với nghề khi ra trường không.
    + Mỗi năm học sinh chọn tổ hợp khác nhau rất khó cho BGH bố trí giáo viên đứng lớp.
    + Các môn Sử, địa cơ hội việc làm ít có thể học sinh ít quan tâm. BGD cần quan tâm vấn đề này.
    + Các môn mới giáo viên chưa có, nếu BGD có kế hoạch sớm các trường sư phạm mới tào tạo kịp.
    + Cơ sở vật chất có thế phải có phòng chức năng riêng như Mỹ thuật và Âm nhạc, đa số trường học hiện tại nhỏ, không đáp ứng được yêu cầu này.
    +Nên để cho HS tự chọn cả môn toán và văn.
    + Những trường hợp học sinh chọn 3 môn không cùng tổ hợp thì nhà trường xử lý như thế nào Bộ Giáo Dục nên có hướng dẫn cụ thể. Ở lớp 11 và lớp 12, việc đề xuất các trường xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc tự chọn (để học sinh tự chọn 3 môn từ các tổ hợp này) nhằm đáp ứng nhu cầu của người học đồng thời phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường làđã hợp lý, phù hợp với thế giới và khu vực, nguyện vọng của học sinh và phụ huynh, xã hội. Nó sẽ tạo điều kiện cho HS phát huy được năng lực của mình, tránh ôm đồm, nặng nề về kiến thức như hiện nay mà hiệu quả không cao.
    7. Những môn học, hoạt động giáo dục nào trong dự thảo CT tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác hiện nay?
    Những môn học, hoạt động giáo dục trong dự thảo CTTT khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường như:
    - Môn Tin học – Công nghệ một số trường không thực hiện được do CSVC chưa đảm bảo (thiếu phòng Tin học)
    - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo đối với trường học 1 buổi không có thời gian để tổ chức. Nội dung các hoạt động chưa tách rõ, giáo viên khó hình dung nhiệm vụ để dạy học.
    - Môn học bắt buộc có phân hóa: gặp rất nhiều khó khăn về CSVC (Phòng chức năng), yếu tố con người: giáo viên không đủ khả năng để dạy phân hóa (Giáo viên thể chất, âm nhạc, mỹ thuật).
    Ví dụ: Môn GD thể chất: có nhiều phân môn như: bóng đá, bóng chuyền, bơi lội, cầu lông… học sinh sẽ chọn một môn theo năng khiếu sở trường của bản thân để học.
    + Môn nghệ thuật (Hát nhạc, Mỹ thuật): học sinh sẽ chọn một loại nhạc cụ để học ví dụ: piano, Ocgan, Măngđôlin, ghita, hát, nhạc lý.
    + Mỹ thuật: vẽ, nặn, điêu khắc…
    - Tóm lại môn học bắt buộc có phân hóa, học sinh có quyền tự chọn một bộ môn năng khiếu, sở trường để học tập rèn luyện đòi hỏi phải đáp ứng đủ CSVC và yếu tố con người (Giáo viên).
    - Các môn khó thực hiện: Âm nhạc, mỹ thuật, giáo dục kinh tế và pháp luật.
    - Cần đáp ứng về nhân lực và CSVC đối với các môn mới.
    - Mỹ thuật âm nhạc, khoa học máy tính, thiết kế và công nghệ khó thực hiện. Do đội ngũ và CSVC chưa đáp ứng được trong thời gian ngắn.
    - Thực hiện chương trình trải nghiệm, dạy lịch sử địa phương thiếu kinh phí cho hoạt động.
    - Trong điều kiện nhà trường hiện nay môn học Trải nghiệm sáng tạo rất hay nhưng khó có thể thực hiện tốt vì công tác xã hội hóa giáo dục chưa phát triển mạnh mẽ, hoạt động trải nghiệm sáng tạo chưa chia tách rõ nội dung nào thuộc về hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nội dung nào thuộc về phần thực hành của các môn học riêng biệt. Vì vậy, khó hình dung ra nhiệm vụ của người giáo viên dạy hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    - Hoạt động Trải nghiệm sáng tạo, ngoại ngữ 2 sẽ khó thực hiện vì phụ thuộc nhiều vào khả năng chuyên môn của giáo viên, nguồn kinh phí, cơ sở vật chất.
    +Giáo dục Nghệ thuật và trải nghiệm sáng tạo.
    + Chủ yếu các môn học mới, có học sinh nhưng giáo viên chưa có, cơ sở vật chất thiếu và yếu.
    - Môn nhạc, mỹ thuật.
    - Những môn học, hoạt động giáo dục trong dự thảo CT tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường là: Khoa học máy tính, hoạt động nghệ thuật, hoạt động trãi nghiệm sáng tạo.
    - Những môn học, hoạt động giáo dục nào trong dự thảo CT tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường hiện nay: Âm nhạc, Mỹ thuật, Khoa học máy tính, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Chuyên đề học tập.
    8. Để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo CT tổng thể có cần cải thiện cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác không? Nếu cần thì nên thực hiện các biện pháp nào?
    Cơ sở vật chất cần trang bị đầy đủ hiện đại đáp ứng theo nhu cầu học tập chương trình mới (Bàn ghế phù hợp, thiết bị dạy học tiến tiến, có sân bơi bãi tập, trang bị hệ thống âm thanh ánh sáng, mô hình cho tiết học ngoại khóa,….)
    - Thống nhất với các quy định hiện hành về cơ sở vật chất, tuy nhiên thực trạng của các trường học hiện nay chưa được đảm bảo theo quy định.
    - Đối với môn giáo dục thể chất: những nội dung khó thực hiện được trong đa số trường học như: Bơi lội, Cầu lông, Đá cầu, Bóng bàn,…
    - Cần có chuẩn diện tích phòng học mới.
    - Cần tích hợp các thiết bị dạy học mới.
    - Cần cải tạo lại phòng học hiện tại để đáp ứng PP dạy hoc mới.
    - Cần hiện đại hóa CSVC nhằm đáp ứng và nâng cao chất lượng giáo dục theo tinh thần mới.
    - Cần tập huấn giáo viên về:
    + Kĩ năng giảng dạy
    + Kĩ thuật dạy học.
    + Sử dụng trang thiết bị giảng dạy hiện đại
    + Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.
    + Cung cấp kinh phí cho các hoạt động phục vụ chương trình mới, nâng lương cho giáo viên.
    - Đẩy mạnh nâng cấp, xây dựng mới trường lớp, các cấp học cần đầy đủ cho xã, phường, thị trấn.
    - Để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo CT tổng thể có cần cải thiện cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường bằng các biện pháp:
    + Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, tạo điều kiện cho nhà trường tăng thu nhập từ các nguồn có thể để phục vụ việc tăng cường dạy học môn trải nghiệm sáng tạo.
    + Cần trang bị đồ dùng dạy học đầy đủ, kịp thời, đồng bộ.
    + Trang thiết bị phải đảm bảo về chất lượng và chế độ bảo hành, phù hợp với đặc trưng môn học, thiết thực, hiệu quả.
    - Cần phải tăng cường toàn diện CSVC.
    - Để dạy và học các môn truyền thống thì trước mắt không vấn đề gì, còn lâu dài thì khó khăn vì phòng học quá nhỏ, vì lớp học mới cần rộng và thiết bị đầy đủ hơn.Chúng ta hướng tới nền giáo dục 4.0 mà trường lớp cũ nhỏ hẹp đang dạy điện quá tải cúp thì không ổn.
    - Cần cải tạo lại trường lớp cũ để giảng dạy, còn trường xây mới phải đúng chuẩn, rất buồn là trường học hiện tại ở nước ta quá nhỏ, có nơi vài met vuông/hs
    - Ngoài việc Nhà nước chăm lo cho việc phát triển toàn diện CSVC thì cần thực hiện thêm: Xã hội hóa tự nguyện trong công tác xây dựng CSVC (huy động sự đóng góp của các Mạnh Thường Quân chăm lo cho sự nghiệp Giáo dục địa phương).
    - Cần cải thiện, một số môn cần cơ sở vật chất như Trải nghiệm sáng tạo, công nghệ,…
    - Cần tăng cường giáo viên nhạc, mỹ thuật.

    PHẦN 2
    Ngoài các nội dung trên, Thầy, Cô có thể góp ý các nội dung khác của dự thảo CT tổng thể và đề xuất các ý kiến với Bộ GDĐT
    - Các cấp quản lý dưới Bộ mới chính là những người thực hiện chính
    - Thời gian góp ý quá ngắn cho một chương trình quá lớn của 1 Quốc gia,
    - Nếu đi từng mục cụ thể sẽ khó định lượng cho 1 tiêu chí nên sẽ khó đưa ra ý kiến cụ thể
    - Do đặc trưng đặc điểm của từng địa phương nên đề xuất linh động giao việc xây dựng các tiêu chuẩn csvc về cho địa phương để từ đó có định hướng nghề nghiệp học sinh cho phù hợp với đặc điểm vùng kinh tế địa phương
    - Tăng quyền tự chủ cho địa phương, tùy theo tình hình kinh tế xã hội mà có đánh giá linh động phù hợp
    - Về định hướng nghề nghiệp chưa thể hiện rõ nét khi phân luồng theo từng địa phương
    - Câu 4: đề nghị thay đổi thông tư 55 theo tình hình thực tế
    - Câu 7, 8 mang tính chung chung, đề xuất nên có 1 chương trình linh động giao quyền thiết kế chương trình chi tiết và thiết kế bài giảng cho địa phương
    - Tập trung bồi dưỡng cho đội ngũ QL và giáo viên đến khi nắm vững chương trình, bắt nguồn từ các trườg ĐH SP
    - Phải có sự phối hợp chặt chẽ Bộ nội vụ và các Sở Nội vụ, UBND địa phương để có sự thống nhất trong quản lý giáo dục ở địa phương
    - Môn học tự chọn thực hiện ở từng cấp học hay toàn cấp học?
    - Thi xét tuyển ĐH-CĐ như thế nào khi HS học môn tự chọn.
    - GV các môn mỹ thuật, âm nhạc, thiết kế và công nghệ, giáo dục kinh tế và pháp luật cần bổ sung.
    - Số tiết môn tự chọn bằng số tiết môn bắt buộc chưa phù hợp.
    - Không tổ chức thi TNTHPT mà giao về các Sở tổ chức thi kết thúc các môn học.
    - Đưa các môn âm nhạc, mỹ thuật, giáo dục kinh tế và pháp luật vào môn học không bắt buộc và mời thỉnh giảng giáo viên ngoài nhà trường giảng dạy.
    - Cần xây dựng lộ trình, thời gian thực hiện. Chuẩn bị nguồn nhân lực để đáp ứng CTGD tổng thể.
    - Phương án kiểm tra đánh giá như thế nào để phù hợp với việc xét tuyển ĐH-CĐ.
    - Bổ sung giáo viên cho các môn chuyên biệt.
    - Chế độ, chính sách cho GV lớn tuổi không đáp ứng được CT giáo dục tổng thể.
    - Việc chọn môn sẽ dẫn đến thừa, thiếu GV ở các môn, các trường.
    - Bổ sung chương trình GDNG lên lớp CCI vào chương trình giáo dục tổng thể.
    - Tăng trường học, giảm số HS trong một lớp ( nên 24HS/lớp)
    - Đối với các trường bán trú nên thiết kế thêm phòng nghỉ trưa.
    - Bộ GD-ĐT cần có chương trình đánh giá tổng thể chương trình SGK hiện hành, rút ra những ưu điểm và hạn chế.Từ đó rút kinh nghiệm trong việc biên soạn chương trình SGK mới.
    Trong chương trình Ngữ văn lớp 11,12, ở chuyên đề Học tập và nội dung giáo dục của địa phương: cần phải có định hướng, khung chương trình hướng dẫn cụ thể.
    Ở mục “Giáo dục ngôn ngữ và văn học”:
    - Môn Ngữ văn: giai đoạn giáo dục cơ bản: Tiểu học gọi là môn “Tiếng Việt”, THCS gọi là môn “Ngữ văn”. Vậy ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp thì gọi là gì?Cần thống nhất tên gọi.
    - Ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp – chương trình trang bị kiến thức lịch sử, văn học, lí luận văn học cần đảm bảo tính cụ thể, sinh động, tránh hàn lâm, chung chung.
    - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh: có nhiều ý kiến tâm đắc nhưng Bộ cần xây dựng chương trình đào tạo giáo viên kĩ lưỡng, xứng tầm để đáp ứng chương trình giáo dục mới.
    - Không nên đưa nhiều môn mới làm xáo trộn tâm lí học sinh, phụ huynh học sinh.
    - Phân bổ giáo dục hướng nghiệp cần phù hợp với từng địa phương.
    - Số lớp, số học sinh, điểm trường: cần phù hợp.
    - Cần đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học.
    - Trong chương trình tổng thể không thấy đề cập đến dạy nghề phổ thông. Vậy chương trình dạy nghề phổ thông theo hướng mới có thay đổi gì so với chương trình hiện tại.
    - Để nâng tầm môn giáo dục thể chất cần đánh giá kết quả học bằng hình thức cho điểm
    - Chương trình mới thiết kế đồng tâm không phù hợp. Cần lược bỏ những nội dung, phẩm chất, năng lưc đã hình thành và tích lũy ở cấp dưới, giảm tải kiến thức trùng lắp. Nên thiết kế chương trình theo đường thẳng.
    - Lớp 10, 11 hướng người học tới các chuyên đề xã hội hoặc tự nhiên phù hợp với định hướng ở bậc học dưới.
    - Phải định hướng nghề nghiệp kỹ ở lớp 12.
    - Đến lớp 10 hạn chế số tiết học tự chọn bắt buộc, mở rộng tìm hiểu hướng nghiệp.
    - Chương trình phù hợp nhưng cần điều chỉnh.
    - Môn GDCD dạy theo mạch kiến thức là phù hợp nhưng cần bỏ các nội dung tích hợp, vd: môi trường chuyển môn Địa, sức khỏe sinh sản vị thành niên chuyển môn Sinh.
    - Đưa môn khoa học thường thức vào chương trình tiểu học.
    - Cần thống nhất chung về chế độ trang phục giáo viên thể dục (có văn bản cụ thể)
    - Nên điều chỉnh đưa môn Tin học cấp THCS vào các môn học bắt buộc.
    - Nên điều chỉnh phân môn Lịch sử và Địa lý thành Khoa học xã hội.
    1/ Xin ý kiến thêm về bộ môn Lịch sử THPT ( GV: Vũ Văn Quyết )
    - Trước đây chúng ta xây dựng trương trình Đồng tâm vì tình hình khi đó phải như vậy, học sinh học hết cấp 2 không có điều kiện học tiếp cấp 3, nên học ở THCS từ nguyên thủy đến nay. Hiện nay đã thay đổi hơn 90% học lên THPT, số còn lại đi học nghề cũng phải học THPT ban đêm.
    - Như vậy nếu CT và SGK mới thiết kế Đồng tâm là không cò phù hợp, vì THCS học rồi lên THPT học nữa thì không ổn nên cần thiết kế theo đường thẳng, cái gì THCS học rồi lên THPT không học nữa; làm như vậy giảm tải được kiến thức trùng lắp, khắc phục được những nhược điểm của SGK hiện hành, vấn đề cơ bản của môn Lịch sử được giải quyết.
    - Lên lớp trên (11 hoặc 12) học theo chuyên đề nhằm định hướng nghề nghiệp như vậy mới ổn cho môn Lịch sử.
    - Trong dự thảo CT tổng thể trang 21 có viết: Ở lớp 11 và lớp 12, môn Lịch sử chú trọng đến các chủ đề và các lĩnh vực nghiên cứu lịch sử, như lịch sử chính trị, lịch sử kinh tế, lịch sử văn minh, văn hóa, lịch sử quân sự và lịch sử xã hội, sự tương tác và hội nhập của Việt Nam vào khu vực và thế giới.
    Nếu không tính kĩ sẽ dạy trùng lặp vì Lịch sử phục vụ lợi ít của giai cấp.Lịch sử Việt Nam chủ yếu là chính trị, quân sự. Khi làm CT và SGK mới BGD cần lưu ý vấn đề này.
    2/ Ý kiến về mục V. Định hướng về nội dung Giáo dục - 2.Giáo dục Toán học
    ( GV: Lê Thị Bích Siêng)
    Các khái niệm toán học hầu hết nảy sinh từ các tình huống thực tiễn ( có những nội dung sinh ra từ nội bộ toán học) và có sự gắn kết với các khái niệm khác ( kể cả khái niệm ở môn học khác) . Vì vậy để “hình thành và phát triển cho học sinh phẩm chất….để học sinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn” hay để học sinh nắm bắt hệ thống khái niệm...hay đinh hương nghề nghệp.”( mục 2 có ghi) , Theo em điều hết sức cần thiết là giáo dục Toán học là cần tính đến việc hướng dẫn để học sinh khám phá nghĩa của tri thức (khái niệm toán học) : tri thức sinh ra từ những tình huống nào, nhằm giải quyết vấn đề gì? Có mối quan hệ gì với các khái niệm khác và tồn tại ra sao …. Vì vậy định hướng nội dung GD cần nghiên cứu và đem vào chương trình SGK các tình huống để dạy học khái niệm toán học mang lại nghĩa của nó (chứ không đơn thuần là cung cấp các khái niệm xa rời nghĩa của nó, quy tắc, các quý tắc định lý “học rồi cũng mau quên” ….để rồi cuối cùng các yếu tố cốt lõi về hình thành năng lực mà môn Toán đem lại cũng khó bền vững. Làm điều này không hề đơn giản với nhiều khái niệm Toán học nên cần có quá trình nghiên cứu liên tục của các nhà giáo dục ( mà nồng cốt là GV đang giảng dạy).
    3/ GV: Nguyễn Thị Hồng Hoa (PHT)
    Theo quan điểm cá nhân, tôi nghĩ để thực hiện được những mong muốn tích cực về việc giáo dục toàn diện thì cần lưu ý đến một số vấn đề như sau:
    - Việc cải cách cần được tiến hành đồng bộ một cách khoa học từ việc đầu tư CSVC, đào tạo nguồn nhân lực, chương trình giảng dạy, nội dung sách giáo khoa.
    - Nên cho phát hành nhiều bộ sách giáo khoa như một số đề xuất trong những năm gần đây nhằm có sự cạnh tranh lành mạnh trong việc thiết kế nội dung, từ đó nâng cao hiệu quả của việc truyền đạt tri thức mới đối với học sinh. Hoặc nếu ngại gặp khó khăn trong một số phát sinh khi thực hiện thì có thể trong thành phần các nhà biên soạn sách giáo khoa, cần có đủ các đối tượng như: các nhà nghiên cứu bộ môn thuần túy, các nhà nghiên cứu về lý luận phương pháp giảng dạy, các giáo viên trực tiếp giảng dạy từ đại diện các vùng miền và đại diện các mức độ trường phổ thông. Và trong quá trình phản biện, cần có sự tham gia của các nhà nghiên cứu thuộc một số quốc gia có nền giáo dục tiên tiến.
    - Giáo viên là nhân tố cuối cùng trong việc truyền đạt, định hướng, dẫn dắt học sinh trong việc tiếp cận tri thức mới. Do vậy, cần quan tâm đến việc dần dần thay đổi lối tư duy theo nếp nghĩ của của một bộ phận giáo viên, để từ đó giáo viên có sự đầu tư, nghiên cứu thật chu đáo về các kiến thức giảng dạy, về phương pháp truyền thụ nhằm tránh việc học sinh sẽ hiểu sai lệch về tri thức, mất đi hứng thú với môn học nói riêng và việc học nói chung.
    - Việc giảng dạy về mỹ thuật, âm nhạc theo tôi là rất cần hiết, vì điều này góp phần tác động tích cực đến việc nuôi dưỡng tâm hồn, hướng các em đến những suy nghĩ tích cực và tốt đẹp ngoài mục đích định hướng cho việc phát triển khả năng của các em. Tuy nhiên, vấn đề vẫn lại nội dung chương trình, cách đánh giá, cách tổ chức sao cho hợp lý và thu hút; tránh việc làm đối phó hay tạo cho bản thân giáo viên lẫn học sinh cảm thấy áp lực trong việc đánh giá kết quả cuối cùng. Hơn nữa, sẽ gặp khó khăn rất lớn trong việc bố trí CSVC phù hợp và nguồn nhân lực phụ trách giảng dạy.
    - Cuối cùng vẫn là việc bằng cách nào đó nhằm tuyên truyền để dư luận xã hội, cha mẹ học sinh, giáo viên, học sinh hiểu được những yếu tố tích cực trong việc cải cách giáo dục theo hướng mới để từ đó mọi người có sự an tâm và chung tay cùng thực hiện. Song song đó, trong quá trình triển khai và thực hiện, mong là lãnh đạo các cấp cần có sự lắng nghe ý kiến đóng góp từ chính những cá nhân trực tiếp thực hiện nhằm phát huy những mặt tích cực và điều chỉnh những hạn chế nếu có vì mục tiêu giáo dục chung.
    - Cần đào tạo, bồi dưỡng thêm cho cán bộ, giáo viên về kỹ năng quản lý, kỹ năng giảng dạy; phương thức quản lý và kỹ thuật xây dựng dự án dạy học cho phù hợp với chương trình mới; bồi dưỡng thêm về kỹ năng vận dụng CNTT, ngoại ngữ trong quản lý và trong dạy học phù hợp với điều kiện và đặc điểm sử dụng của từng lĩnh vực; cần có kinh phí cho các hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    - Để thực hiện tốt chương trình này thì số học sinh của 01 lớp nên điều chỉnh là dưới 35( có thể dưới 30 càng tốt).
    - Để việc thực hiện chương trình đảm bảo kết quả tốt nhất, sau khi ban hành Chương trình Giáo dục phổ thông mới, cần khẩn trương xây dựng Chương trình cụ thể ở các môn học, hoạt động giáo dục và ban hành kế hoạch tổ chức thực hiện.
    - Cần xây dựng lộ trình áp dụng thay thế Chương trình hiện hành; kế hoạch chuẩn bị nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất.
    - Khó khăn lớn nhất của việc triển khai thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông mới là khâu chuẩn bị đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đủ năng lực thực hiện và chuẩn bị cơ sở vật chất, trong bối cảnh nhiều trường còn thiếu phòng học, phòng học bộ môn, đồ dùng dạy học, thiết bị giáo dục.
    - Việc lựa chọn môn học phải thực hiện từ năm trước, trên cơ sở nhà trường mới xây dựng biên chế cho năm học sau nếu không sẽ khó bố trí người dạy. Mặt khác giáo viên bộ môn sẽ thường xuyên biến động và thay đổi, nên có cơ chế hỗ trợ và tạo điều kiện cho gíao viên.
    - Những môn học, hoạt động giáo dục phải xây dựng tổ hợp các môn học sẽ gặp rất nhiều khó khăn do cho học sinh chọn môn học tự do. Nên cho chọn theo tổ hợp môn thì phù hợp hơn bởi sau này các em còn tuyển sinh Đại học.
    - Năm 2018-2019 thực hiện thì quá sớm, tính khả thi thấp( bởi nhiều yếu tố: nội dung chương trình, đội ngũ, cơ sở vật chất). Nếu được nên áp dụng thí điểm tại một số địa phương hay các trường chuyên cả nước sau đó mới áp dụng đại trà nhưng cũng phải xem xét kỹ lưỡng đặt thù của từng cấp học.
    - Năng lực có ghi “Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo”
    - Đề nghị: Phát triển nội hàm “tự chủ” đối với mỗi học sinh là phải hình thành và phát triển được “tự trọng”, “tự tin”, “tự chịu trách nhiệm” (trong 3 “tự” đã bao hàm “tự học”
    - Chuẩn đầu ra của học sinh, yêu cầu về phẩm chất, năng lực phải cần đạt: những năng lực chung, năng lực chuyên môn, những phẩm chất cụ thể và thiết thực
    - Khi biên soạn SGK mới cần phân phối lại hợp lý hơn về tương quan các tiết học trong 3 phân môn (Tiếng Việt, Làm văn và Giảng văn), vì chương trình SGK hiện hành đã bộc lộ khá nhiều bất cập theo yêu cầu đổi mới thi cử hiện nay:
    + Cắt bớt phần “Văn bản nhật dụng” Ngữ văn 12
    + Cắt bớt phần “Văn thuyết minh” Ngữ văn 10

    + Khối 12 nên tăng thành 4 tiết/tuần

Ủng hộ bài viết này