Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Thực hiện Công văn số 1677/BGDĐT-GDTrH ngày 25/4/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về việc góp ý dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (CTGDPTTT); Sở GDĐT Bạc Liêu đã chỉ đạo các phòng GDĐT, các trường THPT tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong cán bộ quản lý, giáo viên các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh. Sau khi rà soát, tổng hợp, Sở GDĐT xin báo cáo kết quả lấy ý kiến như sau:
    (Để thuận tiện trong việc theo dõi và tổng hợp, chúng tôi vẫn giữ thứ tự các đề mục như trong Đề cương của Bộ. Những đề mục nào không nêu trong Báo cáo này là cán bộ quản lý và giáo viên không có ý kiến góp ý)
    A.ĐỐI VỚI TIỂU HỌC
    I. VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG DỰ THẢO CT TỔNG THỂ
    1. Về những vấn đề chung
    1.1. Dự thảo CTGDPTTT đã thể hiện việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ ở mức độ rất tốt.
    - CTGDPTTT đã quán triệt tinh thần chuyển định hướng "từ giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực cho người học";
    - CTGDPTTT đã đưa ra 2 giai đoạn của giáo dục phổ thông một cách rõ ràng và phù hợp với mục tiêu của GD Việt Nam: giáo dục cơ bản (từ cấp tiểu học đến hết cấp THCS) và giáo dục định hướng nghề nghiệp (3 năm học ở cấp THPT).
    1.2. Dự thảo CTGDPTTT đã thể hiện được định hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và từng bước hội nhập với thế giới, đã tiếp cận xu hướng phát triển CTGDPT của các nước tiên tiến ở mức độ khá tốt. Đồng thời dự thảo CTGDPTTT còn mang tính kế thừa các CT GDPT đã có của Việt Nam trước đây, ở mức độ rất tốt. Cụ thể như:
    - Tăng cường các môn học Ngoại ngữ, Tin học, Nghệ thuật được giảng dạy tích hợp với một số môn truyền thống thuộc lĩnh vực khoa học cơ bản: tự nhiên - xã hội còn tiếp tục được kế thừa.
    - CTGDPTTT vận dụng tổng hợp các lĩnh vực: Toán học - Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật và đặc biệt là đưa Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn và trong quan hệ cộng đồng, xã hội.
    2. Về kế hoạch giáo dục
    2.1. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc đãhợp lý theo định hướng đổi mới "Phát triển phẩm chất và năng lực cho người học". Theo Dự thảo, ở cấp tiểu học, các môn học được chia làm ba hình thức:
    a) Các môn học bắt buộc gồm: Tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục lối sống, Cuộc sống quanh ta, Tìm hiểu xã hội, Tìm hiểu tự nhiên, Tìm hiểu công nghệ.
    b) Các môn học bắt buộc có phân hóa: Thế giới công nghệ, Tìm hiểu tin học, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    c) Môn học tự chọn: Tiếng dân tộc thiểu số.
    Ngoài ra, ở tiểu học còn có Hoạt động tự học có hướng dẫn: học sinh đượctự học trên lớp của học sinh tiểu học học 2 buổi/ngày, có sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên là vô cùng thiết thực và cần thiết.
    2.2. Về thời gian thực học các môn học của CTGDPTTT tương đương với 37 tuần (35 tuần thực2 tuần thực học dành cho môn học tự chọn và nội dung GD địa phương); Về số lượng và thời lượng giáo dục các môn học và hoạt động giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp là hợp lý.
    2.3. Góp ý:
    Về tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học: còn dài dòng, gây khó hiểu cho học sinh TH và cha mẹ học sinh như: Giáo dục lối sống, Tìm hiểu xã hội, Tìm hiểu tự nhiên, Tìm hiểu công nghệ, Thế giới công nghệ.
    Có thể đặt lại tên môn học cho gọn hơn, bớt tính ôm đồm, làm cho học sinh và CMHS dễ hiểu dễ nhớ hơn như sau:
    + Giáo dục lối sống: Phẩm chất lối sống hoặc Lối sống
    + Tìm hiểu xã hội, Tìm hiểu tự nhiên: Tự nhiên và xã hội
    + Tìm hiểu công nghệ: Công nghệ
    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CTGDPTTT
    1. Quy định về lớp học, số điểm trường phù hợp với việc thực hiện CT GDPTTT.
    Góp ý về số học sinh/ lớp, cần chia ra:
    a) Đối với lớp 1: không quá 25 em / lớp
    b) Đối với lớp 2-3: không quá 30 em / lớp
    c) Đối với lớp 4-5: không quá 35 em / lớp
    2. Dự thảo nêu: Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2buổi/ngàycần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 - 2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022 - 2023 dạy học 2 buổi/ngày chotất cả các lớp tiểu học.
    Góp ý:
    Đối với các tỉnh còn khó khăn, điều kiện CSVC và đội ngũ GV chưa đáp ứng kịp theo định hướng CTGDPTTT thì: Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2buổi/ngàycần tập trung đầu tư theo lộ trìnhđể:
    - Từ năm học 2018 - 2019 đến năm 2020-2021 (3 năm): dạy học 2 buổi/ngày chotất cả các lớp 1;
    - Và đến năm học 2022 - 2023 đến 2024-2025(3 năm): dạy học 2 buổi/ngày chotất cả các lớp tiểu học.
    3. Về việc cần cải thiện cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường và việc bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên hiện tại, đào tạo giáo viên mới để đáp ứng việc tổ chức dạy học chương trình mới là hết sức quan trọng và cấp bách ngay từ nay để bảo đảm cho việc triển khai thực hiện CTGDPTTT bắt đầu từ năm học 2018-2019.
    6. Những môn học, hoạt động giáo dục nào trong dự thảo CT tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác hiện nay ở một số trường là:
    Hoạt động trải nghiệm sáng tạo; thế giới công nghệ, Ngoại ngữ
    8. Để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo CT tổng thể có cần cải thiện cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác không? Nếu cần thì nên thực hiện các biện pháp nào?
    - Để thực hiện chương trình tổng thể, các phòng học cần được trang bị các thiết bị công nghệ thông tin.
    - Hiện tại diện tích phòng học thiết kế theo cấu trúc bên trong 48m2, bàn ghế thiết kế theo kích thước chuẩn dẫn đến lớp học còn hẹp. Để thực hiện chương trình tổng thể, biện pháp cần khắc phục, giảm sĩ số 30 học sinh/ lớp sẽ phù hợp hơn.
    B. ĐỐI VỚI TRUNG HỌC
    I. VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG DỰ THẢO CT TỔNG THỂ
    1. Những vấn đề chung
    1.1. Dự thảo CT tổng thể đã thể hiện việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ.
    1.2. Dự thảo CT tổng thể đã tiếp cận xu hướng phát triển CT GDPT của các nước tiên tiến.
    1.3. Dự thảo CT tổng thể có kế thừa các CT GDPT đã có của Việt Nam.
    1.4. Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp. Tuy nhiên, cần bổ sung các phẩm chất sống có lý tưởng.
    1.5. Các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp.
    1.6. Các năng lực chuyên môn cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp.
    Chưa phù hợp. Vì các môn học bắt buộc ở lớp 10 còn nhiều (11 môn). Cần giảm bớt số môn học bắt buộc ở lớp 10 tương đương số môn học bắt buộc ở lớp 11,12. Số môn còn lại chuyển thành môn học tự chọn bắt buộc.
    1.7. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp. Cần làm rõ hơn trọng tâm mà học sinh cần đạt được về phẩm chất học sinh theo từng cấp học.
    1.8. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp.
    2. Kế hoạch giáo dục
    2.1. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” là hợp lý nhưng nên xem lại việc bố trí các môn học ở lớp 10 còn nhiều, mang tính cầu toàn nhiều, khả năng đáp ứng của đội ngũ giáo viên hiện nay có nên chăng làm từ từ theo lộ trình.
    2.2. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của CT GDPT tương đương với 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương” là hợp lý.
    2.3. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học nhiều hay ít? Nếu nhiều (ít) thì nên giảm (tăng) như thế nào?
    - Số môn học ở Lớp 10 (gồm các môn bắt buộc, bắt buộc có phân hóa, tự chọn bắt buộc và tự chọn) như vậy là quá nhiều môn và quá nặng nề. Chương trình GDPTTT nên quy định các môn học ở Lớp 10 giống như ở Lớp 11 và 12.
    Lí do: Mặc dù chương trình ở lớp 10 theo như dự thảo chương trình GDPTTT là để “dự hướng nghề nghiệp“ và “nhằm củng cố vững chắc học vấn phổ thông cốt lõi”, tuy nhiên, hiện nay, mặc dù con cái mới học lớp 10 nhưng thực tế khá nhiều bậc cha mẹ học sinh đã định hướng nghề nghiệp cho con mình từ sớm. Việc phải học quá nhiều môn (không theo định hướng) sẽ làm mất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc của học sinh. Và với số môn học lên tới hơn chục môn như vậy thì không thể nào “củng cố vững chắc học vấn phổ thông cốt lõi“ được, vì chắc chắn học sinh cũng chỉ chú tâm học những môn mà các em đã định hướng hoặc được người lớn định hướng, còn các môn không trong định hướng mà buộc phải học thì chắc chắn các em sẽ học không đảm bảo chất lượng, thậm chí xem thường môn học đó, học chỉ để đối phó.
    - Đối với các môn học tự chọn ở Lớp 10, 11, 12, Chương trình GDPTTT nên:
    Bỏ luôn môn học tự chọn (tiếng dân tộc thiểu số và ngoại ngữ 2) trong chương trình GDPTTT hoặc quy định ở những vùng, những địa phương cụ thể nào có đông đồng bào dân tộc thiểu số hoặc (và) có điều kiện dạy các môn này thì tổ chức, không cần đưa vào trong chương trình GDPTTT để áp dụng cho cả nước, vì chắc chắn có nhiều địa phương không thể thực hiện được nếu học sinh chọn những môn học đó.
    - Thực chất chương trình chưa được giảm tải, + Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của cấp THPT còn nhiều. Nên giảm số lượng các môn ở lớp 10. Nghiên cứu thực hiện theo lộ trình đến 2022 có thể hoàn chỉnh chương trình như dự thảo.
    2.4. Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý. Tuy nhiên, cần làm rõ hơn ý nghĩa, mục đích của một số môn mới như Giáo dục trải nghiệm sáng tạo.
    2.5. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý.
    2.6. Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy họcnội dung giáo dục của địa phương”. Không có ý kiến.
    2.7. Việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo CT tổng thể) phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường có ưu điểm gì, hạn chế gì?
    a) Ưu điểm:
    - Các môn học tự chọn sẽ giúp học sinh lựa chọn phù hợp với nguyện vọng, sở trường và định hướng nghề nghiệp của học sinh.
    - Giúp học sinh phát triển phẩm chất và năng lực, tạo môi trường học tập và rèn luyện thuận lợi; giúp người học tích lũy được kiến thức phổ thông vững chắc. biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời.
    - Có nhiều giải pháp mang tính đổi mới.
    - Học sinh được phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần. Trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời.
    - Học sinh sẽ giảm được các môn học, có điều kiện học sâu hơn, có thời gian thực hành nhiều hơn để chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai, vừa có điều kiện phát triển một số năng lực khác.
    b) Hạn chế:
    - Đẩy mạnh hoạt động tư vấn chọn môn học, ngành học cho PHHS, HS đi đúng hướng, đúng sở trường, năng lực của HS.
    - Giáo viên cần được trang bị đầy đủ thiết bị, thời gian chuẩn bị cho từng tiết học. Cần được tập huấn chuẩn bị kĩ lưỡng cho việc đổi mới.
    - Học sinh phải định hướng từ đầu cho chính xác, phù hợp với năng lực, sở trường bản thân, . . .
    - Số lượng môn học bắt buộc ở lớp 10 còn nhiều.
    - Một số trường có qui mô nhỏ sẽ khó khăn trong việc xếp lớp, lực lượng giáo viên của các trường có thể thiếu hoặc thừa theo từng năm (vì phụ thuộc vào sự lựa chọn của học sinh nên có thể năm này sẽ dư giáo viên môn học này, nhưng năm sau lại thiếu).
    - Một số môn ở bậc THPT như Mỹ thuật, Âm nhạc chưa có giáo viên nên khó đáp ứng chương trình giáo dục trong dự thảo.
    - Học sinh dễ chọn sai nếu không được tư vấn kỹ càng và không có thông tin chính xác và nhu cầu ngành nghề trong tương lai
    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Dự thảo CT tổng thể nêu: “Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GDĐT được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông”là hợp lý.
    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CT GDPT
    1. Quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Sĩ số lớp học như hiện nay là quá cao, khó quản lí và giáo dục nhằm phát triển năng lực và phẩm chất toàn diện cho học sinh như chương trình đặt ra. Đề nghị quy định số học sinh/lớp là 30 hoặc 35 để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới.
    2. Quy định hiện hành về số lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    - Đội ngũ giáo viên hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu dạy học một số môn học mới. Biện pháp tập huấn, bồi dưỡng hay đào tạo lại chỉ là các biện pháp nhất thời. Trước mắt, muốn thực hiện được cần đào tạo thế hệ giáo viên mới ngay từ đầu, cần yếu tố thời gian.
    - Đinh mức bố trí giáo viên/lớp nên là: Cấp THCS 2,5; cấp THPT 3,0.
    3. Quy định hiện hành về cơ sở vật chất trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    - Diện tích phòng học nên rộng hơn các phòng hiện nay.
    4. Quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    - Không cần thay đổi.
    6.Ở lớp 11 và lớp 12, việc đề xuất các trường xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc tự chọn (để học sinh tự chọn 3 môn từ các tổ hợp này) nhằm đáp ứng nhu cầu của người học đồng thời phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường là hợp lý.
    - Ở lớp 11 và 12 đề xuất dạy các môn tự chọn.
    - Nếu đáp ứng nhu cầu người học, thì nhu cầu đó cần có lộ trình thay đổi theo từng năm. Nếu thay đổi ngay thì đội ngũ giáo viên rất khó đáp ứng chương trình giáo dục mới. Nếu năm nay do nhu cầu học sinh học môn này, nhà trường phải tăng cường giáo viên cho phù hợp, nhưng nếu năm sau học sinh lại chọn nhóm môn khác thì lại thiếu nhóm giáo viên mới và thừa nhóm giáo viên cũ. Vấn đề này chỉ phù hợp các trường ở khu vực thành phố, còn khu vực nông thôn việc đi lại gây khó khăn cho giáo viên phải di chuyển từ trường này sang trường khác. và giáo viên cũng không đủ khả năng để tiến hành giảng dạy. Tương tự như vậy, việc tách hoạt động trải nghiệm sáng tạo và nghiên cứu khoa học kỹ thuật ra khỏi các môn học truyền thống sẽ đặt ra vấn đề: Ai sẽ dạy các hoạt động này và dạy như thế nào (đội ngũ giáo viên hiện có chỉ quen với các môn học truyền thống; còn các trường sư phạm hiện hành không đào tạo giáo viên dạy các môn mới lạ này).
    - Bên cạnh đó việc xác định bốn môn học bắt buộc trong chương trình THPT đã giảm bớt số bộ môn mà HS phải học nhưng chỉ có tác dụng tích cực trong việc luyện thi tuyển sinh ĐH-CĐ, mà chưa chắc đã đủ để đáp ứng mục tiêu GDPT về phát triển nhân cách con người.
    7. Những môn học, hoạt động giáo dục nào trong dự thảo CT tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác hiện nay?
    - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là tương đối khó thực hiện vì giáo viên hiện nay chưa quen với việc dạy cho học sinh về năng lực tổ chức hoạt động, năng lực tổ chức và quản lý cuộc sống, năng lực tự nhận thức và tích cực hoá bản thân, năng lực định hướng và lựa chọn nghề nghiệp. Ngoài ra, còn có các môn khác như: Ngoại ngữ 2, Tiếng dân tộc thiểu số, Giáo dục kinh tế và pháp luật; Thiết kế và công nghệ, Khoa học máy tính, Mỹ thuật, Âm nhạc, . . .
    8. Để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo CT tổng thể có cần cải thiện cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác không? Nếu cần thì nên thực hiện các biện pháp nào?
    - Cần phải cải thiện cơ sở vật chất hiện nay. Các trường phải có đủ các phòng chức năng phục vụ dạy học, các phòng này phải đảm bảo có đủ thiết bị - đồ dùng dạy học tối thiểu, phải có nhân viên chuyên trách trực tiếp quản lí để khi giáo viên cần là có thể dạy học ngay tại các phòng này mà không mất thời gian để chuẩn bị.
    - Mỗi phòng học cần trang bị trang thiết bị dạy học có kết nối Internet.
    - Cần thực hiện đồng bộ các biện pháp sau:
    + Lập kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho từng giai đoạn, từng năm học; chỉ đạo các cơ sở giáo dục căn cứ chức năng, nhiệm vụ đề xuất bổ sung các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho công tác giáo dục.
    + Chỉ đạo nhà trường thực hiện tốt công tác quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị phục vụ nhiệm vụ chuyên môn.
    + Khai thác các nguồn kinh phí từ dự án của nước ngoài, các chương trình mục tiêu của Chính phủ, sự hợp tác hỗ trợ của các doanh nghiệp trên địa bàn, cân đối từ việc tiết kiệm chi để bổ sung cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật nhằm phục vụ tốt công tác giáo dục của nhà trường./.

Ủng hộ bài viết này