Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Thực hiện Công văn số 1677/BGDĐT-BPTTr ngày 25 tháng 4 năm 2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) về việc góp ý dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (CT GDPT TT). Sở GD&ĐT báo cáo như sau:
    - Lãnh đạo Sở GD&ĐT đã gửi email của Bộ GD&ĐT đến phòng GD&ĐT các quận huyện, trường trung học phổ thông (THPT) và trường phổ thông có nhiều cấp học.
    - Lãnh đạo nhà trường đã chuyển tiếp email từ Sở đến Tổ trưởng chuyên môn để các tổ trưởng nghiên cứu đóng góp ý kiến và chuyển tiếp đến các giáo viên của tổ.
    - Sau đó, phòng GD&ĐT quận huyện, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học đã báo cáo về Sở GD&ĐT các ý kiến góp ý dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.
    - Ngày 11 tháng 5 năm 2017, Sở Giáo dục và Đào tạo Cần Thơ tổ chức Hội nghị góp ý dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể lấy ý kiến từ lãnh đạo các Phòng giáo dục và đào tạo, các trường THPT, các trường THCS, các trường TH và trường phổ thông có nhiều cấp học.
    Sở Giáo dục và Đào tạo Cần Thơ tập hợp các ý kiến đóng góp, báo cáo về Bộ Giáo dục và Đào tạo như sau:
    Phần lớn các ý kiến đều thống nhất cao với dự thảo Chương trình GDPT tổng thể mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng. Về mục tiêu chương trình GDPT tổng thể đã xác định được các yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của học sinh ở từng cấp học và phù hợp với Luật giáo dục sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2010. Sở Giáo dục và Đào tạo Cần Thơ có một số ý kiến sau:
    A. PHẦN TỔNG QUAN
    Nhìn chung, ưu điểm của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã thể hiện tính xây dựng và đổi mới, chú trọng rèn luyện tư duy, giúp phát triển các phẩm chất, năng lực cho học sinh, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn.
    Chương trình THPT có định hướng nghề nghiệp từ lớp 11, 12. Ở dự thảo, định hướng nghề nghiệp có chương trình rõ ràng và có bộ môn để hướng nghiệp.
    Chương trình cũng đã đưa vào một số bộ môn xã hội cần như đưa tin học ứng dụng là một bộ môn riêng hay giáo dục nghệ thuật, giáo dục âm nhạc cũng trở thành định hướng nghề nghiệp,… Đây là những điều mới mẻ những cũng rất hay và hợp lý của dự thảo chương trình.
    B. PHẦN CHI TIẾT
    I. VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG DỰ THẢO CHƯƠNG TRÌNH TỔNG THỂ
    1. Những vấn đề chung
    1.1. Dự thảo Chương trình tổng thể đã thể hiện việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ chưa, ở mức độ nào?
    Ý kiến: Thực hiện quán triệt, đầy đủ quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ.
    Cơ sở pháp lý của việc đổi mới chương trình GDPT lần này dựa vào các Văn kiện chính trị của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, cụ thể là: Nghị quyết số 29-NQ/TW, Nghị quyết số 88/2014/QH13, Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 44/NQ-CP) và Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27 tháng 3 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đổi mới chương trình SGK GDPT.
    Tài liệu của Bộ GD&ĐT cho biết, trong quá trình xây dựng chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Bộ GD&ĐT đã “tham khảo và học tập chương trình và sách giáo khoa của nhiều nước tiêu biểu cho các khu vực khác nhau (Đông Nam Á, Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc; cử các đoàn cán bộ sang một số nước học tập và thông qua các tổ chức quốc tế mời các chuyên gia giáo dục của các nước (Anh, Mỹ, Hàn Quốc, Bỉ, Đức, Hồng Kong…) sang Việt Nam tập huấn về xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa”. Tuy nhiên, trong bộ tài liệu về Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (Dự thảo) của Bộ GD&ĐT, không tìm thấy bất kỳ tham chiếu nào đến “Hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về phân loại giáo dục” (ISCED, các phiên bản năm 1997 và 2011) của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp quốc (UNESCO). Qua nghiên cứu Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (Dự thảo), chưa thấy các nội dung của ISCED được ứng dụng vào Chương trình này.
    1.2. Dự thảo CT tổng thể đã tiếp cận xu hướng phát triển CT GDPT của các nước tiên tiến chưa, ở mức độ nào?
    Ý kiến: Dự thảo CT tổng thể đã tiếp cận xu hướng phát triển CT GDPT của các nước tiên tiến trên cơ bản định hướng nội dung chương trình, phương pháp, cách đánh giá. Các xu thế quốc tế nêu trên đã được vận dụng trong việc xây dựng CT GDPT của Việt Nam theo nguyên tắc: Học tập một cách sáng tạo và có hệ thống, không rập khuôn máy móc, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, mang tính hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
    1.3. Dự thảo Chương trình tổng thể có kế thừa các CT GDPT đã có của Việt Nam không, ở mức độ nào?
    Ý kiến: Có kế thừa chương trình GDPT cũ, phát triển những ưu điểm của các chương trình giáo dục phổ thông đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm xây dựng chương trình của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.
    Mức độ 7/10.
    1.4. Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo Chương trình tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là phù hợp, rất tốt nếu thực hiện được. Một số ý kiến khác như sau:
    - Yêu thiên nhiên là phẩm chất quan trọng nhất (bao hàm cả yêu đất nước và yêu con người), vì đất nước, con người về mặt sinh học cũng nằm trong phạm trù thiên nhiên (tự nhiên), không nên tách rời con người và đất nước khỏi thiên nhiên. Con người cần được giáo dục ý thức và có ý thức phải yêu và bảo vệ thiên nhiên cuộc sống thì tất yếu sẽ yêu đất nước, con người.
    - Cần bồi đắp song hành con người tự do cá nhân và con người nghĩa vụ vì cộng đồng. Cần có sự kết nối bản ngã cá nhân với cái truyền thống mực thước của dân tộc, đồng thời đặt chúng trong mối tương quan với sự phát triển của thế giới hiện nay.
    1.5. Các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo Chương trình tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Phù hợp, rất tôt nếu thực hiện được.
    1.6. Các năng lực chuyên môn cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo Chương trình tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là phù hợp. Một số ý kiến khác như sau:
    - Môn Tin học cần xem lại số tiết cho môn khoa học máy tính vì dạy và học lập trình ở mức trung học nên ở mức nhẹ nhàng để phù hợp cho mọi đối tượng học sinh.
    - Các năng lực chuyên môn cần hướng về việc định hướng nghề nghiệp và các khối ngành nhiều hơn nữa.
    - Năng lực thể chất và các năng lực sinh tồn cần ưu tiên hình thành và phát triển cho học sinh.
    1.7. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo Chương trình tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là phù hợp. Một ý kiến khác như sau: đối với học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông cũng cần bổ sung biểu hiện phẩm chất: Yêu thiên nhiên, học sinh cần có ý thức yêu quý thiên nhiên, yêu quý môi trường, ý thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Vì thiên nhiên, môi trường là gốc rễ của con người, trong đó cũng bao gồm các yếu tố ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến đời sống của con người, quyết định đến sự sống còn của con người.
    1.8. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo Chương trình tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là phù hợp. Một số ý kiến khác như sau:
    - Ở phần 1.1. Tự lực ở cấp trung học phổ thông nên điều chỉnh thành “có ý thức giúp đỡ mọi người xung quanh, tự lực trong các hoạt động”.
    - Phù hợp nhưng nhiều đối với tiểu học.
    - Mục 4.1. Năng lực sử dụng tiếng Việt: ở cấp trung học phổ thông: thay cụm từ “Biết trình bày và bảo vệ quan điểm của cá nhân một cách chặt chẽ, có sức thuyết phục” thành “Trình bày và bảo vệ được các quan điểm của cá nhân một cách chặt chẽ, thuyết phục”.
    2. Kế hoạch giáo dục
    2.1. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là hợp lý. Một số ý kiến khác như sau:
    - Cần thay đổi môn học tự chọn bắt buộc.
    - Sự lựa chọn bắt buộc chỉ thiên về KHTN hoặc KHXH học sinh sẽ hạn chế về mặt kiến thức.
    - Chỉ nên chia thành môn học bắt buộc và môn học tự chọn.
    “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộcgiai đoạn giáo dục cơ bản là hợp lý. Còn giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp thì chưa phù hợp, ví dụ môn Ngữ văn tới lớp 11,12 thì đi vào chuyên sâu, người học có năng lực sáng tác thì học sinh khối tự nhiên có cần không?
    2.2. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của CT GDPT tương đương với 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là phù hợp, hợp lý. Một số ý kiến khác như sau:
    - Nên giao cho địa phương tự quyết định.
    - Nên giảm bớt lại số tuần học.
    - 3 tuần thực hành.
    - “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của Chương trình GDPT tương đương với 36 tuần, gồm: 34 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương”.
    2.3. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học nhiều hay ít? Nếu nhiều (ít) thì nên giảm (tăng) như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là hợp lý, vừa đủ, đa dạng. Một số ý kiến khác như sau:
    - Ở cấp THPT, có nhiều môn học và hoạt động giáo dục nên giảm ở môn Mĩ thuật và Âm nhạc hoặc có thể gộp 2 môn này thành một môn học.
    - Quá nhiều môn mới đưa vào chương trình.
    - Lượng kiến thức nhiều.
    - Tùy điều kiện cụ thể của từng trường để có phân phối cho hợp lý.
    - Phải đảm bảo các môn Lý, Hóa, Sinh, Lịch sử, Địa lí là môn học bắt buộc đối với học sinh lớp 11, 12.
    - Nên giảm ở bậc tiểu học.
    - Nên giảm môn học cho lớp 1, 2 như ở môn Thế giới công nghệ.
    - Nên giảm trải nghiệm sáng tạo vì nội dung này nên đưa vào từng môn học sẽ phù hợp hơn là một môn riêng.
    - Hoạt động giáo dục hơi nhiều.
    2.4. Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đa số ý kiến nhận xét là hợp lý. Một số ý kiến khác như sau:
    - Ở cấp THPT môn Khoa học máy tính và Tin học ứng dụng nên gộp lại với tên là Tin học. Tên môn Thiết kế và công nghệ còn mơ hồ nên cụ thể thiết kế cái gì, hay chỉ đặt tên là Công nghệ.
    - Giáo dục thể chất nên dạy theo dạng chuyên đề thực hiện vào buổi học riêng, không xếp thời khóa biểu chung với các môn khác.
    - Tùy điều kiện của từng Sở giáo dục và đào tạo.
    - Ở nội dung Giáo dục tiểu học: tên gọi môn học Cuộc sống quanh ta với các môn Tìm hiểu tự nhiên, Tìm hiểu xã hội liệu có trùng lặp. Dạy học môn Cuộc sống quanh ta là dạy những gì?
    - Đổi tên gọi môn Giáo dục kinh tế và pháp luật chưa phù hợp.
    - Môn Âm nhạc và Mĩ thuật nên nhập lại thành một môn Nghệ thuật như cấp tiểu học và trung học cơ sở.
    - Nên tách môn Lịch sử và Địa lí ra, không nên gom chung.
    - Một số môn học ở bậc tiểu học nhất là từ lớp 1 đến lớp 3 như Thế giới công nghệ, hoạt động trải nghiệm sáng tạo và tiếng dân tộc thiểu số có phần phức tạp đối với học sinh ở các khối lớp này.
    2.5. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là hợp lý. Một số ý kiến khác như sau:
    - Môn ngoại ngữ 1 cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông chỉ có 105 tiết quá ít so với cấp tiểu học, môn này có tới 140 tiết. Vì thế, nên tăng số tiết ở môn học này là 140 tiết.
    - Môn Giáo dục kinh tế và pháp luật nên là môn bắt buộc ở lớp 11 và 12.
    - Chưa hợp lý đối với Thể chất, Âm nhạc, Hội họa.
    - Giảm hoạt động trải nghiệm.
    - Nên tăng thêm số giờ học Tiếng Việt và Toán cho khối tiểu học, giảm hoặc có thể thực hiện luân phiên các môn đã nêu ở mục 2.4.
    - Thời lượng của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp THPT chưa thật hợp lý với bộ môn Ngữ văn, vì tới lớp 10 HS hoàn thành giáo dục cơ bản thì sau đó lớp 11 và 12 trở thành môn tự chọn bắt buộc với học sinh có định hướng mĩ thuật, khối xã hội còn học sinh có định hướng kĩ thuật, tăng tiết thực hành, hoạt động trải nghiệm.
    2.6. Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, dự thảo Chương trìnhtổng thể nêu: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy học nội dung giáo dục của địa phương”. Quy định như vậy đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Việc học 02 buổi/ ngày là cần thiết, không riêng học sinh ở cấp học nào. Vì học 02 buổi học sinh mới đủ thời gian học tất cả các môn, đồng thời có thêm thời gian để được rèn luyện các kỹ năng. Một số ý kiến khác như sau:
    - Cần bố trí thêm thời gian hướng dẫn trên lớp và nội dung giáo dục địa phương.
    - Nên học 1 buổi 1 ngày.
    - Vẫn nên dạy học nội dung giáo dục của địa phương.
    - Đối với học sinh từ lớp 1 đến lớp 3 không nên học ngày 2 buổi vì học sinh ở độ tuổi nhỏ cần được nghỉ ngơi nhiều hơn, học 2 buổi sẽ tạo áp lực cho học sinh. (nếu phải học buổi chiều thì chỉ nên học các môn nghệ thuật hoặc giáo dục thể chất).
    - Có ý kiến cho rằng chưa hợp lí, vì như vậy thiếu sự công bằng đối với các đối tượng học sinh, mà nên khéo léo hướng dẫn học sinh lập thời gian biểu tự học tại nhà, lồng ghép giáo dục địa phương trong những giờ sinh hoạt dưới cờ, trò chơi,…
    2.7. Theo Thầy (Cô), việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo CT tổng thể) phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường có ưu điểm gì, hạn chế gì?
    Nếu không đồng ý phương án trên, đề nghị Thầy (Cô) đề xuất một số phương án khác nhằm thực hiện quy định tại Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT: “Giáo dục định hướng nghề nghiệp bảo đảm học sinh tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng”.
    Ý kiến:
    Ưu điểm:
    - Phù hợp với năng khiếu, sở trường của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh định hướng nghề nghiệp trong tương lai.
    - Học sinh sẽ lựa chọn được môn học mình yêu thích, giảm bớt những môn mà các em nhận thấy không cần thiết.
    - Phù hợp với định hướng nghề nghiệp.
    - Tăng tính tích cực chủ động cho học sinh trong việc lựa chọn môn học yêu thích và phù hợp với năng lực của bản thân.
    - Học sinh được chủ động lựa chọn môn học theo điều kiện, sở thích và tố chất bản thân, chuẩn bị cho định hướng tiếp cận đại học. phải đảm bảo các môn lý, hóa, sinh, sử, địa là môn học bắt buộc đối với học sinh lớp 11, 12.
    - Giúp học sinh hiểu biết nhiều hơn và phát huy năng khiếu của mình.
    - Giảm áp lực cho học sinh.
    Hạn chế:
    - Chưa nhìn thấy lộ trình chuẩn bị, không chắc các trường sẽ bố trí nhân sự dạy và biên soạn chương trình ra sao, theo hướng nào?
    - Việc lựa chọn môn học tự nguyện có thể sẽ gây một số khó khăn trong việc tổ chức lớp học (về số lượng học sinh khác nhau, cách thức tổ chức, kiểm tra đánh giá,...).
    - Học sinh chưa được giáo dục toàn diện.
    - Các trường THPT sẽ gặp khó khăn trong công tác tổ chức giảng dạy: giáo viên, cơ sở vật chất, chương trình, kiểm tra đánh giá,...
    - Học sinh được tự chọn môn thì sẽ khó khăn cho những môn được ít học sinh chọn, khó tổ chức hoạt động dạy và học.
    - Học sinh có thể chọn môn học theo bạn bè, số đông dẫn đến thiếu giáo viên hướng dẫn ở một số môn do học sinh đăng kí nhiều; và một số môn ít học sinh đăng kí.
    - Một số địa phương sẽ gặp khó khăn do chưa đủ điều kiện để chuẩn bị theo yêu cầu của chương trình mới.
    Đề xuất:
    - Nên là 4 môn tự chọn.
    - Cần giảm còn 1 chuyên đề học tập, 2 môn tự chọn để vừa sức học sinh.
    - Để việc lựa chọn của học sinh thực sự có tác dụng thì ngay từ các lớp học dưới, học sinh cần được tạo điều kiện để phát hiện cũng như phát triển các năng lực của bản thân, đồng thời cần có phương pháp giúp học sinh định hướng lựa chọn môn học phù hợp với bản thân cũng như yêu cầu lao động của xã hội.
    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Dự thảo CT tổng thể nêu: “Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là hợp lý. Một số ý kiến khác như sau:
    - Học sinh tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GD&ĐT được công nhận hoàn thành Chương trình GDPT, còn nếu có một bằng TNTHPT thì cần trải qua kì thi của một cơ quan khảo thí riêng biệt để đánh giá đúng năng lực học sinh và chất lượng của nhà trường.
    - Cần có tiêu chí đánh giá chung, chuẩn và thống nhất.
    - Nên đánh giá Đạt và Chưa đạt.
    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CT GDPT
    1. Quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện Chương trình GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là không cần. Một số ý kiến khác như sau:
    - Chưa phù hợp về số lượng học sinh. Cần giảm khoảng 25-30 học sinh/ lớp.
    - Cần trang bị thêm cơ sở vật chất.
    - Cần thay đổi vì trên thực tế khi cho học sinh đăng kí môn học tự chọn sẽ có những môn học sinh đăng kí quá nhiều và môn đăng kí ít, có trường hợp không đăng kí. Những môn không đăng kí giáo viên không có lớp dạy.
    - Bố trí lại bàn ghế để có thể thay đổi linh động, hỗ trợ thêm các phương tiện dạy học phù hợp.
    - Cần hỗ trợ các trường chuẩn bị về đào tạo nhân lực và cơ sở vật chất để thực hiện tốt Chương trình GDPT mới.
    - Quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường hiện nay là chưa phù hợp để thực hiện CT GDPT mới. Cần phải tăng cường thêm nhiều phòng học chuyên dụng như phòng âm nhạc (cách âm), phòng múa,…
    2. Quy định hiện hành về số lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện Chương trình GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là không cần. Một số ý kiến khác như sau:
    - Tùy thực tế của từng bộ môn ở từng trường.
    - Cần thay đổi cơ cấu giáo viên ở những môn tự chọn.
    - Cần bổ sung giáo viên dạy trải nghiệm sáng tạo, giáo viên dạy mỹ thuật, âm nhạc.
    - Nên thay đổi số lượng GV phù hợp với nhu cầu HọC SINH ở mỗi môn học.
    - Cần tổ chức các buổi tập huấn bồi dưỡng cách thức giảng dạy theo CT GDPT mới cho giáo viên để giáo viên nắm rõ cách thức giảng dạy và nội dung giảng dạy theo Chương trình mới.
    - Với Chương trình GDPT mới, đòi hỏi điều kiện về đội ngũ giáo viên, về số lượng và chất lượng, trong khi điều kiện hiện nay chưa thật phù hợp.
    3. Quy định hiện hành về cơ sở vật chất trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện Chương trình GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là không cần thay đổi. Một số ý kiến khác như sau:
    - Cần đầu tư CSVC cho phù hợp, hiện nay nhiều vùng khó khăn sẽ rất khó thực hiện Chương trình GDPT mới, cho việc tổ chức các hoạt động giáo dục.
    - Cần có những điều chỉnh theo số lượng và theo chương trình đào tạo.
    - Mua các trang thiết bị phù hợp với các nội dung giảng dạy mới.
    - Nên đầu tư thêm các trang thiết bị về công nghệ thông tin cho trường, đảm bảo các tiết thực hành Tin học mỗi học sinh được sử dụng 1 máy.
    - Đầu tư số lượng và chất lượng nhiều hơn với các môn có nhiều học sinh chọn.
    - Bổ sung trang thiết bị, hóa chất đầy đủ, chất lượng cho phòng thí nghiệm.
    - Bố trí lại bàn ghế để có thể thay đổi linh động, trang bị đầy đủ các phương tiện dạy học phù hợp trong mỗi lớp học.
    - Cần tăng cường thêm cơ sở vật chất, phòng học, sân chơi thiết bị đáp ứng nhu cầu dạy và học.
    4. Quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện Chương trình GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là không cần thay đổi, vì quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội là phù hợp. Một số ý kiến khác như sau:
    - Cần kêu gọi xã hội hóa để Chương trình GDPT mới được chuẩn bị tốt và có tính khả thi cao.
    - Tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội để giáo dục học sinh tốt hơn.
    5. Đối với trường tiểu học, dự thảo Chương trình tổng thể nêu: “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày cần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 - 2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022 - 2023 dạy học 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp tiểu học” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là hợp lý. Một số ý kiến khác như sau:
    - Đối với trường tiểu học: “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2buổi/ngàycần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018-2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022-2023 dạy học 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp tiểu học” là phù hợp.
    - Học sinh ở độ tuổi tiểu học, ngoài việc học ở trường lớp, ngoài việc học từ thầy, cô, thì còn nhiều kỹ năng, năng lực khác cần phải hình thành trong môi trường xã hội hoặc ở gia đình; các em cũng cần phải học tập từ cha, mẹ, ông bà và xã hội. Việc học 2 buổi/ngày cho tất cả các ngày là quá nhiều và không hợp lí.
    - Cần sự quan tâm đầu tư của Nhà nước thì có thể thực hiện được.
    6. Ở lớp 11 và lớp 12, việc đề xuất các trường xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc tự chọn (để học sinh tự chọn 3 môn từ các tổ hợp này) nhằm đáp ứng nhu cầu của người học đồng thời phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là hợp lý. Một số ý kiến khác như sau:
    - Nên cho học sinh chọn trước các môn học, sau đó nhà trường tổng hợp, thống kê việc đăng ký của học sinh mà tìm cách bố trí cho phù hợp. Trong trường hợp không thể bố trí phù hợp với tất cả sự lựa chọn của học sinh, nhà trường mới đưa ra một số lựa chọn định hướng cho học sinh.
    - Gặp khó khăn trong việc xếp giờ, xếp lớp, phân bổ giáo viên, nảy sinh hiện tượng môn thừa, môn thiếu giáo viên.
    - Nếu áp dụng Chương trình GDPT mới vào năm học 2018-2019 thì không khả thi.
    - Nhiều nhà trường chưa đáp ứng đủ điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất để thực hiện tổ hợp môn bắt buộc tự chọn.
    7. Những môn học, hoạt động giáo dục nào trong dự thảo Chương trình tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác hiện nay?
    Ý kiến:
    - Môn Âm nhạc và Mĩ thuật ở cấp THPT.
    - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Hoạt động nghệ thuật, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Tiếng dân tộc thiểu số, Mĩ thuật, Khoa học máy tính, Ngữ văn, Thể chất, Hội họa, Nghiên cứu khoa học kỹ thuật, các môn tự nhiên.
    - Việc xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc.
    8. Để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo CT tổng thể có cần cải thiện cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác không? Nếu cần thì nên thực hiện các biện pháp nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là cần cải thiện.
    - Cần trang bị thêm phòng nghe nhìn cho môn Ngoại ngữ nhằm phát triển toàn diện 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
    - Đầu tư xây dựng nhà thi đấu đa năng, khu thể thao, các phòng thí nghiệm, Lab.
    - Cần tăng cường các phương tiện công nghệ trong các phòng học, cải thiện khối phục vụ học tập cho đúng quy cách và chất lượng.
    - Thư viện cần được đầu tư thêm
    - Cần cải thiện cơ sở vật chất, sân chơi, bãi tập, cung cấp nhiều thiết bị thực hành hơn cho các môn thực nghiệm.
    9. Ý kiến thêm
    - Trong dự thảo có ghi “Ngoại ngữ 2 là môn học tự chọn, có thể bắt đầu từ lớp 6 và kết thúc ở bất kỳ lớp nào tùy theo nhu cầu của học sinh và khả năng đáp ứng của cơ sở giáo dục”. Khi học sinh chọn một ngoại ngữ khác để học thì cần phải theo hết cả cấp học chứ không nên dừng ở bất kì lớp nào.
    - Chương trình cải tiến nên thăm dò ý kiến của phụ huynh học sinh.
    - Cần có một môi trường giáo dục đề cao tinh thần phản biện ở người học về giúp học sinh cảm nhận được niềm vui của sự học, học để phát triển con người chứ không đơn thuần là chọn nghề.
    - Nên công bố sớm để chủ động chuẩn bị.
    - Bộ Giáo dục và Đạo tạo cần biên soạn tài liệu dạy học, sách giáo khoa phù hợp với chương trình và đáp ứng được yêu cầu tiếp cận kiến thức của học sinh.
    - Tất cả các môn học ở năm lớp 11 và 12 đều là môn tự chọn. Môn Tin học nên được giảng dạy từ năm lớp 1.
    - Giao kinh phí cho trường để trường tự mua các loại thiết bị dạy học; cho cơ sở được tham gia đóng góp ý kiến vào các dự án xây dựng, tu sửa, bổ sung cơ sở vật chất.
    - Cần phân tích, đánh giá các ý kiến đóng góp, soạn thảo các nội dung thật hoàn thiện.
    - Bồi dưỡng giáo viên cho chương trình mới là việc làm vô cùng cấp bách hiện nay. Vì vậy, để đội ngũ giáo viên giảng dạy đủ năng lực, trình độ, đòi hỏi phải có bước chuẩn bị từ rất sớm. Nếu đúng tiến độ, cuối năm 2017, chương trình GDPT tổng thể và chương trình môn học sẽ được phê duyệt và đưa vào áp dụng. Như vậy, công việc tập huấn, bồi dưỡng sẽ rất gấp rút, đề nghị cần nghiên cứu thời gian phù hợp áp dụng chương trình mới để đạt hiệu quả như mong muốn.
    - Đề nghị Bộ GD&ĐT làm việc với Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính để ban hành các thông tin liên tịch hướng dẫn về biên chế nhân sự, chế độ chính sách phù hợp với việc thay đổi Chương trình GDPT tránh tình trạng thiếu biên chế, thiếu nguồn lực tài chính khi tiến hành (VD: Thêm môn học mới Mĩ thuật, Âm nhạc ở cấp THPT: đòi hỏi thêm biên chế và thiết bị dạy học; Biên chế chuyên trách tư vấn học đường).
    - “Nhà trường … được tự chủ về chuyên môn, nhân sự và tài chính”: đề nghị Bộ GD&ĐT hướng dẫn cụ thể và kịp thời về nội dung tự chủ nhân sự.
    - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo: cách thức đánh giá kết quả học tập của học sinh như thế nào? Hoạt động trải nhiệm sáng tạo được qui thành 105 tiết/năm học: hoạt động TNST bắt buộc phải tiến hành hàng tuần hay giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục miễn sao đủ số lượng tiết học theo qui định? Cách tính tiết cho GV phụ trách như thế nào?
    - Nội dung giáo dục địa phương: nên là nội dung bắt buộc vì qua nội dung này HS có thêm hiểu biết về KT-VH-XH địa phương. Đây là cơ sở, nền tảng bồi dưỡng lòng yêu nước (bắt đầu từ tình yêu nơi mình sinh sống, học tập) và có thêm cơ hội nghề nghiệp. Điều này phù hợp với giai đoạn định hướng nghề nghiệp.
    Đề xuất: Nội dung về GD Kinh tế địa phương tích hợp vào môn Giáo dục kinh tế và pháp luật, Địa lý; Nội dung về GD văn hoá, xã hội địa phương tích hợp vào môn Ngữ văn, Địa lý; Nội dung về GD lịch sử địa phương tích hợp vào môn Lịch sử.
    - Việc chuyển các môn ở lớp 10 bắt buộc (Giáo dục kinh tế và pháp luật, Lịch sử, Địa lý, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Thiết kế và Công nghệ) lên lớp 11, 12 chuyển thành tự chọn? Vậy kết cấu chương trình lớp 10 các môn này sẽ có cấu trúc như thế nào? HS có thể thay đổi môn tự chọn từ lớp 11 lên lớp 12 không?
    Đề xuất: Bộ phận biên soạn SGK cần chú ý đến tính độc lập giữa cùng 1 môn học cho lớp 10, 11 và 12. Có phương án giải quyết, tổ chức cụ thể cho trường hợp HS thay đổi môn tự chọn từ lớp 11 lên lớp 12.
    - Môn Ngoại ngữ: “Nội dung chương trình được xây dựng dựa theo yêu cầu của Khung trình độ ngoại ngữ sáu bậc dành cho Việt Nam” tương thích với các bậc A1, A2, B1, B2, C1, C2 khung tham chiếu chung châu Âu (CEFR) và “đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước”.
    Đề xuất: Qui định cụ thể trình độ đạt được ở HS sau mỗi lớp, mỗi cấp học theo Khung trình độ ngoại ngữ sáu bậc dành cho Việt Nam và tổ chức cho HS thi chứng chỉ quốc tế vừa đánh giá chất lượng dạy học khách quan vừa được cấp chứng chỉ quốc tế.
    Các năng lực chung
    + Năng lực tự học: dự thảo Tiểu học: “Tự làm được những việc của mình ở nhà và ở trường theo sự phân công, hướng dẫn” và THCS “Chủ động, tích cực thực hiện những công việc của bản thân trong học tập và trong cuộc sống; không đồng tình với những hành vi sống dựa dẫm, ỷ lại”. Đề nghị điều chỉnh như sau Tiểu học: “Tự làm được những công việc của bản thân trong học tập và trong cuộc sống theo sự phân công, hướng dẫn” và THCS “Chủ động, tích cực thực hiện những việc của mình ở nhà và ở trường; không đồng tình với những hành vi sống dựa dẫm, ỷ lại”.
    + Đề nghị sử dụng thống nhất từ ngữ: có lúc là “thầy cô”, có lúc là “giáo viên”. Đề nghị dùng từ “thầy cô” để thấy sự gần gũi, thân thiện hơn.
    - Hằng năm, Bộ GD&ĐT tổ chức khảo sát thực tế, tham khảo ý kiến các cơ quan quản lý giáo dục, các trường, cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và những người quan tâm để đánh giá chương trình, xem xét, điều chỉnh (nếu cần thiết) và hướng dẫn thực hiện các điều chỉnh (nếu có): đây là điểm tích cực trong việc cập nhật và điều chỉnh chương trình phù hợp với thực tiễn.
    Đề xuất: Bộ GD&ĐT chú trọng cập nhật các số liệu mới, kiến thức mới một cách chính thống trên websites của Bộ GD&ĐT (để có cơ sở pháp lý trong thực hiện).
    - Giáo viên một số bộ môn băn khoăn về số lượng tiết học ít như Tiếng Anh (105 tiết/năm), Toán (140 tiết/năm).
    Đề xuất: Bộ GD&ĐT chú trọng cân đối giữa nội dung chương trình môn học và thời lượng được qui định cho môn học để tăng tính khả thi khi thực hiện.
    - HS lớp 6 năm 2018, 2019, 2020, 2021, sẽ học theo chương trình cũ từ lớp 1-5, sau đó chuyển tiếp sang Chương trình mới. HS lớp 10 năm 2018, 2019, 2020, sẽ học chương trình cũ từ lớp 1-9, sau đó chuyển qua chương trình mới.
    Đề nghị: Bộ GD&ĐT quan tâm vấn đề này để đảm bảo sự tương thích, kế thừa giữa chương trình hiện tại và chương trình mới, có những giải pháp và hướng dẫn cụ thể cho các cơ sở GD&ĐT nhằm đảm bảo cho tính khả thi của chương trình mới, đảm bảo chất lượng học tập của HS.
    - Người xử lí thông tin góp ý nên làm việc độc lập với Ban soạn thảo Chương trình để đảm bảo tính khách quan.
    - Xây dựng Chương trình tổng thể trên tinh thần triệt để, toàn diện, khách quan và chống lãng phí.
    - Cần đề xuất thêm trong phần phụ lục: nên có sự kế thừa trên thế giới ở những điểm nào, vì sao phải kế thừa. Chỉ ra đâu là kế thừa, đâu là đổi mới.
    - Trong Chương trình, cần lược bớt những cách diễn đạt trừu tượng, khó hiểu, nên dùng từ toàn dân, phổ thông. Chẳng hạn như: thời lượng giáo dục nên dùng cụm từ thời lượng giảng dạy, giáo dục toán học.
    - Điều chỉnh lại Cuộc sống quanh ta thành Tìm hiểu xã hội hay Tìm hiểu tự nhiên. Nếu để riêng từng môn, phụ huynh và xã hội nghĩ rằng học sinh tiểu học phải học quá nhiều môn.
    - Lớp 1, 2, 3: theo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể có 33 tiết/tuần, trong khi ở tiểu học chỉ có 25 tiết/tuần. Vì vậy, cần điều chỉnh lại cho phù hợp.
    - Nên thống nhất thời lượng của các khối lớp tiểu học từ 35 đến 40 phút/tiết.
    - Đối với Bộ GD&ĐT: nên có Thông tư liên tịch với Bộ Nội vụ về số giáo viên/lớp từ 1,7 đến 1,9 giáo viên/lớp mới đáp ứng yêu cầu phân công giảng dạy.

    Sở GD&ĐT thành phố Cần Thơ kính báo./.

Ủng hộ bài viết này