Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Thực hiện Công văn số 1677/BGDĐT-GDTrH ngày 25/4/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) Sở GDĐT Gia Lai xin góp ý các vấn đề sau:
    I. VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG DỰ THẢO CT TỔNG THỂ
    1. Những vấn đề chung
    a. Ưu điểm:
    Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mà Bộ GD&ĐT công bố nhìn chung đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành TW Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Với 54 trang của dự thảo cho thấy bố cục rõ ràng, sắp xếp khoa học, tính liên thông cao của chương trình học từ tiểu học đến bậc THPT. Trong đó có đưa vào một số môn mới phù hợp với thực tiễn của đất nước và quan điểm giáo dục toàn diện. Dự thảo là đảm bảo tính liên thông, xuyên suốt giữa 3 cấp học; giảm tải được môn học nhất là ở chương trình lớp 11 và 12, học sinh được chọn môn học phù hợp với định hướng nghề nghiệp.
    Dự thảo chương trình đã kế thừa những ưu điểm của chương trình giáo dục hiện hành và có nhiều điểm mới. Cụ thể, mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông nhằm giúp học sinh hình thành những phẩm chất, năng lực cụ thể; chú trọng đến việc trang bị cho học sinh kỹ năng thực hành, kỹ năng vận dụng, kỹ năng thích ứng với những thay đổi; định hướng nghề nghiệp cho học sinh bằng những môn học và hoạt động giáo dục cụ thể.
    Dự thảo chương trình đã kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực.
    b. Cần bổ sung, điều chỉnh và làm rõ:
    - Chương trình giáo dục phổ thông là văn bản chính sách của Nhà nước thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, để chính sách có tính khả thi và thực hiện theo lộ trình khoa học thì Bộ GDĐT nên có đánh giá và thống kê các số liệu về đội ngũ cán bộ giáo viên và cơ sở vật chất hiện nay của hệ thống GDPT đồng thời có dự kiến về số liệu đội ngũ cán bộ, giáo viên và cơ sở vật chất đáp ứng cho chương chương trình đổi mới khi hoàn thiện, từ đó xây dựng lộ trình bồi dưỡng, đào tạo CB-GVcũng như chế độ chính sách dành cho đội ngũ CB-GV bị dư thừa và nguồn kinh phí dùng cho quá trình đổi mới theo từng giai đoạn hợp lý.
    - Qui định thêm: việc lựa chọn môn tự chọn và môn tự chọn bắt buộc phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương và năng lực đáp ứng của từng cơ sở giáo dục phổ thông; Cách phân chia môn bắt buộc và môn tự chọn chưa rõ ràng. chương trình quy định các môn học bắt buộc ở các cấp nhưng không nói rõ mỗi cấp học sinh phải chọn tối thiểu bao nhiêu môn và chỉ được chọn thêm tối đa bao nhiêu môn để không bị quá tải, gây phân tán học lực.. yếu tố phân luồng và phương pháp phân luồng chưa rõ nét.
    - Một số môn và hoạt động giáo dục trong dự thảo có tính tích hợp nhưng giáo viên phổ thông còn nhiều hạn chế về mặt này, do đó khi xây dựng chương trình cụ thể cho từng môn học cần có quy định, hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn.
    - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo:
    + Về nội dung cơ bản của chương trình gồm 5 lĩnh vực, phân chia theo 2 giai đoạn. Nhất trí với nội dung Hoạt động trải nghiệm sáng tạo; thiết kế theo nguyên tắc tích hợp, đồng tâm và tuyến tính; Và các chủ đề được xây dựng mang tính chất mở: tổ chức trong và ngoài lớp học, trong và ngoài trường học; được thực hiện theo quy mô nhóm, lớp học, khối lớp hoặc quy mô trường. Điều này đòi hỏi Nhà trường phải trang bị đầy đủ CSVC, trang thiết bị dạy học mới đảm nhận được.
    + Về hình thức tổ chức hoạt động chủ yếu: thực hành nhiệm vụ ở nhà, sinh hoạt tập thể, trò chơi, diễn đàn, giao lưu, hội thảo, cắm trại, tham quan, thực địa, thực hành lao động, câu lạc bộ, hoạt động phục vụ cộng đồng. Đề nghị phải đào tạo giáo viên để tổ chức thực hiện nội dung, hình thức cho hoạt động này.
    + Để thực hiện Hoạt động trải nghiệm sáng tạo thì phương pháp dạy học của Hoạt động này như thế nào? Rất khó cho việc tổ chức tại các cơ sở giáo dục. Vì cơ sở vật chất của nhà trường hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu cho Hoạt động này và đội ngũ giáo viên dạy phải am hiểu nhiều lĩnh vực.
    + Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo như sự định hướng của Bộ GDĐT là rất cần thiết cho học sinh trong thời đại ngày nay song thiết nghĩ đối với học sinh vùng Tây Nguyên thì hoạt động trải nghiệm sáng tạo sẽ vấp phải những khó khăn về kinh phí.
    + “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo” là các hoạt động trải nghiệm thực tiễn quan trọng và cần thiết, cần xác định cụ thể các kĩ năng chủ đạo như kĩ năng tư duy, tự chủ, hợp tác của phương pháp học chủ động và học trải nghiệm để đưa vào làm những mục tiêu học tập và được lồng ghép hình thành và phát triển song song với tiếp nhận kiến thức các môn học, thông qua những trải nghiệm trong và ngoài lớp học hay các hoạt động kiểm tra, đánh giá. Vấn đề khó khăn cho các trường học là việc tổ chức hoạt động trải nghiệm như: Tổ chức cho HS đi những đâu, thời gian nào, kinh phí thực hiện để chuyên chở, chăm sóc và hướng dẫn HS…
    - Giáo dục Hướng nghiệp:
    + Về thời gian dành cho GDHN quá nhiều. Cấp THCS: 52,5 đến 70 tiết/năm, cấp THPT giáo dục hướng nghiệp được thực hiện thông qua nhiều môn học…hoạt động giáo dục và biểu hiện qua những con đường chủ yếu gồm: Hướng nghiệp thông qua môn Công nghệ và Hướng nghiệp; hướng nghiệp thông qua các môn học khác; hướng nghiệp thông qua Hoạt động trải nghiệm sáng tạo và các hoạt động giáo dục khác ở nhà trường và địa phương.
    + Đề nghị cần phải có Chương trình hướng nghiệp theo hướng mở, phù hợp với mỗi vùng miền và mỗi địa phương. Trong thực tế đánh giá hoạt động này như thế nào? Và trang bị phương tiện, điều kiện CSVC để thực hiện nhiệm vụ Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh…
    - Việc trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội.Ở điểm này chúng tôi thấy khó có thể thực hiện được tại một số nơi khó khăn, trình độ dân trí thấp, đội ngũ lãnh đạo chính quyền địa phương chưa quan tâm đến giáo dục, đang phải đối phó với những yêu cầu thiết thực trước mắt như ăn, ở, đi lại, khám chữa bệnh . . . , địa phương và nhà trường có trách nhiệm như thế nào đối với các nội dung giáo dục bổ sung, ai là người chịu trách nhiệm chính và liệu địa phương có đủ những người có trình độ kiến thức về lĩnh vực giáo dục để cùng ngồi và cùng bàn bạc với nhà trường trong việc lựa chọn các nội dung giáo dục bổ sung. Điều này dẫn đến không công bằng giữa những địa phương có kiện kinh tế - phát triển với những vùng khó khăn.
    - Về Định hướng nội dung: Nên đưa phần giáo dục đạo đức vào chương trình Giáo dục Công dân thay vì chỉ có trong Giáo dục kinh tế và pháp luật. Đương nhiên là giáo dục đạo đức cần phải có trong tất cả các môn học, nhất là giáo dục định hướng nghề nghiệp cho những công dân tương lai.
    2. Kế hoạch giáo dục
    - Chương trình GDPT còn nặng; cách tiếp cận môn học và tự chọn chưa hợp lí. Cụ thể chương trình quy định các môn học bắt buộc ở các cấp mà không nêu rõ học sinh mỗi cấp học nhưng không nói rõ mỗi cấp học sinh phải chọn thêm tối thiểu bao nhiêu môn và chỉ được chọn thêm tối đa bao nhiêu môn để không bị quá tải, gây phân tán học lực.
    - Chương trình chưa giảm tải nội dung học tập ở cấp THPT là 29-30 tiết/ tuần với các trường đang tổ chức học 01 buổi/ngày (do không đủ cơ sở vật chất) là tương đối nhiều. Như vậy thời lượng này sẽ không có thời gian cho các hoạt động khác (như tổ chức kiểm tra chung, tổ chức sinh hoạt chuyên môn, ngoại khóa . .. ).
    - Đối với bộ môn Khoa học máy tính và Tin học ứng dụng nên ghép chung vào một bộ môn vì hai bộ môn này có những nét tương đồng.
    - Có thể tích hợp giữa 02 bộ môn Hoạt động trải nghiệm sáng tạo và Giáo dục Hướng nghiệp làm một, để giảm bớt thời lượng giáo dục từ lớp 1 đến 12 góp phần giảm tải chương trình tổng thể.
    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    - Nội dung và yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông như trên là chưa phù hợp với đơn vị tại địa xã vùng đặc biệt khó khăn và các đơn vị có tỉ lệ học sinh dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ cao.
    - Bên cạnh việc kiểm tra đánh giá học sinh bằng hình thức kiểm tra viết nên cho phép giáo viên kiểm tra học sinh thông qua các bài tập nhóm, các dự án học tập…
    - Dự thảo CT tổng thể nêu: “Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GDĐT được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông”là hợp lý. Bởi vì có tổ chức thi tốt nghiệp THPT như hiện nay thì đa số HS lớp 12 đều được công nhận tốt nghiệp. Nhưng các học viên học tập theo hệ giáo dục thường xuyên phải có cơ chế xét tốt nghiệp phù hợp (tránh hiện tượng chạy bằng cấp).
    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CT GDPT
    1. Tiểu học
    Cấp Tiểu học là khoảng thời gian để cho các em học sinh làm quen với môi trường học tập đầu đời, hình thành và phát triển thói quen và kĩ năng học tập, khơi dậy tình yêu và đam mê với việc học tập qua các hoạt động phù hợp với tâm lý và sức khỏe của các em.
    - Môn học “Cuộc sống quanh ta” nên được tích hợp giữa ba môn là “Khoa học tự nhiên”, “Khoa học xã hội” và “Khoa học công nghệ” để giúp học sinh có kiến thức tổng hợp lý giải những hiện tượng xã hội, thiên nhiên, công nghệ và kĩ năng tổng hợp để giải quyết các vấn đề có liên quan. Bởi vì kiến thức và kĩ năng của hai lĩnh lực khoa học, xã hội có thể giúp người học hiểu, giải thích và cảm nhận được những nội dung, hiện tượng của cuộc sống xung quanh.
    - Theo Chương trình GDPT tổng thể đề xuất cấp tiểu học có 14 môn học là quá nhiều và phân tán, dễ gây quá tải trong việc giảng dạy tại cơ sở. Đề xuất cho các môn học của cấp tiểu học như sau (07 môn): 1- Tiếng Việt; 2- Ngoại ngữ (Tiếng Anh); 3- Toán; 4- Cuộc sống quanh ta: xã hội, tự nhiên, công nghệ; 5- Giáo dục đạo đức, lối sống; 6- Nghệ thuật (nhạc, họa, nhảy, ca kịch); 7- Thể chất (thể thao, thể dục)
    - Trong các môn Tiếng Việt và Ngoại Ngữ có thể được thiết kế sao cho phù hợp, tương trợ và liên kết với nhau trong việc hình thành và phát triển kiến thức và kĩ năng. Song lưu ý là 4 kĩ năng thực hành Tiếng Việt cần được phát triển ở mức độ tương đối mới nên giới thiệu ngoại ngữ, cụ thể là Tiếng Anh với học sinh tiểu học để tránh tình trạng quá tải và nguy cơ làm hỗn độn tư duy và khả năng biểu đạt ngôn ngữ của các em. Để hoạt động tự học có hướng dẫn ở cấp bậc tiểu học đạt hiệu quả cao, khâu tổ chức cần hợp lý và bài bản do số lượng học sinh có thể quá tải đối với giáo viên trong khi hoạt động chú trọng đến tính cá nhân khá nhiều. Hoạt động này ngoài nhiệm vụ hình thành và phát triển các kĩ năng học tập cho học sinh để lĩnh hội nội dung học tập chính khóa mà còn là cơ hội tốt khơi dậy niềm đam mê học tập và tính tự chủ của học sinh. Hơn nữa, để thực hiện hoạt động này nhà trường và các thầy cô giáo cần có sự ủng hộ và hợp tác tốt với phụ huynh học sinh đồng thời có hướng dẫn cụ thể và thống nhất để học sinh được cha mẹ hướng dẫn, kèm cặp khi ở nhà.
    - Môn Tiếng Việt:
    + Phân môn Tập làm văn: Nên hệ thống lập dàn ý chi tiết với từng kiểu văn kể chuyện, miêu tả,… cho bài văn hoàn chỉnh. Các tiết dạy tiếp theo nên liền mạch cây dựng từng phần: Mở bài, thân bài, kết bài, để các hình thành, tránh đan xen kiến thức khác dẫn đến các em quên không nhớ và khó hệ thống kiến thức để vận dụng làm thành một bài văn hoàn chỉnh. Các bài tóm tắt tin tức, luyện tập tóm tắt tin tức nên cắt bỏ, vì kiến thức quá khó và quá sức đối với HS tiểu học.
    + Phân môn Luyện từ và câu: Phần nhận xét cũng như phần luyện tập có quá nhiều bài tập, kiến thức quá tải đối với HS tiểu học, cần giảm xuống chỉ để từ 1 đến 2 bài tập hoặc câu hỏi để áp dụng cho phần lí thuyết theo từng nội dung bài, từng chủ điểm vừa học ở trên.
    + Phân môn Chính tả: Phần bài tập nhiều bài có nội dung dài, khó, nên giảm xuống và theo từng vùng miền để dạy phương ngữ chính tả cho HS phù hợp và chỉnh sửa phát âm theo nội dung bài học có liên quan.
    + Phân môn Tập đọc: Nên giảm các câu hỏi khó, trừu tượng với HS. Tăng thời lượng rèn kĩ năng đọc đúng, đọc diễn cảm cho HS tiểu học nhiều hơn nữa.
    Phân môn Kể chuyện: Nên bỏ hết các tiết kể chuyện có nội dung kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia. Nên cho học sinh sưu tầm hoặc kể những câu chuyện có trong sách truyện đọc hoặc trong đời sống gần gũi như gia đình, nhà trường, bạn bè,.. Các câu chuyện ca ngợi các vị anh hùng dân tộc đã có những cống hiến trong chiến tranh và trong khoa học như công nghệ điện tử hiện đại như ngày nay. Từ đó khơi dậy lòng yêu quê hương, đất nước và con người Việt Nam hơn.
    - Môn Toán: Điều chỉnh nội dung theo chuẩn kiến thức kĩ năng và theo điều chỉnh cụm phân loại đối tượng HS đã được thống nhất.
    - Môn Khoa học: Kiến thức còn quá nhiều, quá dài và quá khó với nhận thức của học sinh. Nên giảm bớt kiến thức và thay vào đó là giáo dục HS biết chăm lo sức khỏe cho bản thân, phòng tránh các tai nạn đuối nước, biết vận dụng kiến thức vào thực hành làm việc trên thực tế.
    - Thời lượng môn học hoạt động trải nghiệm sáng tạo 105 tiết/năm là quá nhiều, cơ sở vật chất của một số cơ sở giáo dục và địa phương không thể đáp ứng.
    - Môn Tìm hiểu Tin học và tìm hiểu công nghệ (khối 4, 5): Cần mở rộng cho khối 3 và tăng thời lượng 35 tiết/năm lên thành 70 tiết/năm.
    - Môn Lịch sử và địa lí: Quá khó, quá nhiều lượng kiến thức vì sự nhận thức của các em chưa tới. Nên học ở mức nhận biết, phần kiến thức khó nên cuốn chiếu dần lên các cấp bậc THCS, THPT sẽ hiệu quả cao hơn.
    - Môn Âm nhạc: Đối với môn học này giúp học sinh hình thành các cảm xúc, tư tưởng, biểu đạt các giá trị văn hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên với môn học này đối với học sinh tiểu học không cần có sự phân hóa vì không đủ số lượng giáo viên cũng như cơ sở vật chất để phân hóa đối tượng trong quá trình dạy học.
    - Môn mĩ thuật; với môn học này đối với học sinh tiểu học không cấn có sự phân hóa vì không đủ số lượng giáo viên cũng như cơ sở vật chất để phân hóa đối tượng trong quá trình dạy học.
    - Môn tin học; với môn học này các em sử dụng các phần mềm đơn giản hỗ trợ cho việc học tập, trong khi đó nhà trường có nhiều điểm trường lẻ cơ sở vật chất không đảm bảo, không thể tổ chức cho các em học tập. Kể cả trường hợp nhà trường được đầu tư phòng học tin học tại điểm làng thì công tác bảo quản cũng là điều có thể nói bất khả thi.
    - Một số lớp học hai buổi trong ngày sẽ khó áp dụng cho những trường ở vùng sâu, vùng xa.
    - Giai đoạn giáo dục cơ bản: Chương trình quy định các môn học bắt buộc ở các cấp, nhưng lại không nêu rõ ở mỗi cấp học sinh phải chọn thêm (tối thiểu) bao nhiêu môn và chỉ được chọn thêm (tối đa) bao nhiêu môn (để không bị quá tải, gây phân tán học lực)?
    2. Trung học cơ sở
    Mục IV. Kế hoạch giáo dục
    - Do giai đoạn 2 là giáo dục định hướng nghề nghiệp, cho nên sức ép về gánh nặng chương trình bị dồn xuống giai đoạn 1, nguy cơ về khả năng hạn chế để tiếp nhận kiến thức cơ bản và phải học quá tải cho học sinh Tiểu học và THCS là điều dễ hiểu. Vì vậy khi xây dựng chương trình môn học cụ thể để soạn sách giáo khoa cũng cần giới hạn lại kiến thức. Số môn học thì giữ nguyên nhưng nên giảm số tiết xuống. Việc xây dựng chương trình cần cho giáo viên chủ động, linh hoạt trong việc quyết định thời lượng dạy học của từng đơn vị kiến thức.
    - Ở cấp Trung học cơ sở, môn học Khoa học xã hội (bắt buộc) ở mỗi lớp chỉ ghi 3 tiết/tuần nên tăng thêm 1 tiết để có 4 tiết/tuần như môn Khoa học Tự nhiên (bắt buộc). Hiện nay, do chưa nhận thức đúng về các môn Khoa học xã hội nên việc giáo dục nhân cách, phẩm chất cho học sinh cũng còn nhiều hạn chế.
    - Đưa hoạt động giáo dục định hướng nghề nghiệp thành một phần bắt buộc vào chương trình THCS (lớp 9) để phân luồng hợp lý sau khi học xong cấp học này.
    - Chương trình Tiếng Anh mới yêu cầu học sinh THCS đạt năng lực bậc 2 về ngoại ngữ (trang 42) sẽ rất khó đối với thực trạng học sinh hiện nay, đặc biệt với các trường có học sinh dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ cao. Môn Tiếng Anh có thời lượng ít (2 tiết/tuần), khó có thể truyền tải hết nội dung cần học cho học sinh.
    Ở cấp Tiểu học và THCS chỉ nên cho học sinh học một ngoại ngữ bắt buộc, chứ không nên đưa thêm ngoại ngữ 2 là môn tự chọn vì ở những cấp học này, học sinh phải học các môn học khác khá nhiều. Việc dạy 2 ngoại ngữ cùng lúc bắt đầu từ cấp THCS có thể khiến áp lực học hành đối với học sinh nặng nề hơn.
    - Môn Lịch sử, Địa lí: Dự thảo theo hướng tích cực, xây dựng tổ hợp liên môn có tính khoa học. Tuy nhiên lộ trình “Đại cương, thế giới, khu vực, …” chưa sát với thực tế. Cần đưa “khu vực” vào Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    - Môn Tin học và Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nên giảm thời lượng xuống còn 1 tiết/tuần ở tất cả các khối lớp. Các môn học tự chọn, nội dung giáo dục của địa phương thời lượng nên giảm xuống còn khoảng 35 tiết/năm học. Thời lượng môn học hoạt động trải nghiệm sáng tạo 105 tiết/năm là quá nhiều, cơ sở vật chất của một số cơ sở giáo dục và địa phương không thể đáp ứng.
    - Môn Âm nhạc đặt quá nhiều mục tiêu, kiến thức nặng so với chương trình hiện hành. Việc nhập môn Lịch sử và Địa lý ở bậc THCS sẽ khó khăn cho học sinh khi tiếp cận môn Lịch sử và Đại lý riêng biệt khi vào học cấp THPT. Đồng thời, cần cụ thể hóa số tiết các môn: Vật lý, Sinh học, Hóa học để thuận tiện phân công chuyên môn.
    - Tăng thời lượng môn giáo dục công dân lên mỗi tuần thêm 1 tiết cho các khối 6, 7, 8, 9 để có nhiều thời gian giáo dục đạo đức cho học sinh hơn.
    - Nếu dựa trên nội dung và yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông. Nhưng nếu các trường dựa trên đó để xây dựng kế hoạch riêng cho trường mình phù hợp với hoàn cảnh địa phương thì khi thi, đánh giá, đem ra so sánh sẽ rất khó khăn vì thực tế các vùng miền, địa phương có điều kiện khá chênh lệch, vì vậy cần có hướng dẫn cụ thể.
    - Tại mục VI (Kế hoạch giáo dục): Môn Âm nhạc, Mỹ thuật (TC3) chương trình quy định là 1,5 tiết/tuần, đề nghị có thể điều chỉnh thành 2 tiết/tuần nhằm đảm bảo số tiết cân đối giữa 2 bộ môn và thuận lợi trong việc bố trí giảng dạy. Đối với môn Công nghệ (TC3) chương trình quy định là 1,5 tiết/tuần, đề nghị có thể điều chỉnh thành 1 tiết/tuần. Như vậy tổng thể vẫn đảm bảo 28 tiết/tuần theo kế hoạch giáo dục.
    - Tại mục VI (Điều kiện thực hiện chương trình): Mục 1 (tổ chức và quản lý): Số học sinh trên lớp không quá 45 em nhưng thực tế không thể dưới 40 em là tương đối nhiều, trong khi đó diện tích phòng học trước mắt chưa đảm bảo, đồng thời để đánh giá đúng theo mục tiêu của kế hoạch giáo dục thì có thể điều chỉnh dưới 40 học sinh trên lớp.
    - Để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới cần phải thực hiện đồng bộ từ việc xây dựng chương trình, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng được yêu cầu của chương trình mới; Giáo viên phải là người nắm rõ được mục tiêu, kế hoạch cũng như nội dung chương trình, phương pháp dạy học.
    - Tăng cường các nguồn lực xã hội để đầu tư cơ sở vật chất và các phương tiện, thiết bị dạy học cho các trường học, đặc biệt chú trọng các trường vùng sâu, vùng xa; đồng thời tạo cơ chế để các cơ sở giáo dục thực hiện xã hội hóa nhằm tăng cường thêm cơ sở vật chất. Nội dung Chương trình GDPT tổng thể chỉ có thể tổ chức thực hiện đạt hiệu quả khi đáp ứng các yêu cầu đã đặt ra.
    3. Trung học phổ thông
    a. Ưu điểm của Chương trình GDPT mới
    - Có nhiều điểm mới so với chương trình hiện hành, đổi mới nhằm nâng cao sự tư duy, tinh thần tự học, tăng thêm các kĩ năng về thực hành, trải nghiệm thực tế, rèn kĩ năng sống, kĩ năng sáng tạo cho học sinh. Một điểm mới đáng chú ý là chương trình GDPT đặt ra yêu cầu phát triển học sinh theo hướng năng động hơn, có tư duy độc lập, có khả năng giải quyết vấn đề.
    - Chương trình mới cho phép nhà trường và giáo viên tự sắp xếp môn học, giờ học ở mỗi môn để phù hợp với điều kiện của từng trường. Chương trình mới phân hóa các môn học, số tiết THPT ở từng khối lớp phù hợp.
    - Có tính định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
    - Chương trình tổng thể cũng khẳng định những điều kiện cơ bản, tối thiểu về công tác quản lý, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, kỹ thuật của trường phổ thông để thực hiện được Chương trình giáo dục phổ thông tổng mới phù hợp với thực tiễn, đồng thời đặt ra yêu cầu nhà trường phải liên tục phát triển để ngày càng đáp ứng tốt hơn Chương trình giáo dục phổ thông tổng mới.
    b. Hạn chế của Chương trình GDPT mới
    - Thời gian bồi dưỡng đội ngũ giáo viên để thực hiện chương trình mới vào năm 2018 là khó khả thi vì chương trình và nội dung giảng dạy các bộ môn thống nhất và đồng bộ từ lớp 1 đến lớp 12 là chưa có và chưa được đội ngũ GV, chuyên gia khoa học góp ý, theo chúng tôi việc công khai và lấy ý kiến góp ý chương trình giảng dạy các môn học là rất cần thiết tránh để lại những hệ lụy lâu dài do việc học sinh chọn môn học từ lớp 11, 12 có thể dẫn đến việc dư thừa giáo viên trong các trường học.
    - Nếu lớp 11, 12 có thêm các môn học tự chọn bắt buộc (Học sinh tự chọn ít nhất 3 môn và 1 Chuyên đề học tập với tổng số tiết tối thiểu là 330 tiết) thì các trường THPT sẽ không chủ động biên chế được số lượng lớp học tự chọn và phân công đội ngũ giáo viên thực hiện các môn học tự chọn. Đặc biệt các trường ở vùng khó khăn, số học sinh ít, đội ngũ giáo viên hầu hết 01 GV/môn.
    - Hiện nay sĩ số lớp quá đông, cơ sở vật chất thiếu thốn là một trở ngại lớn cho giáo viên khi thực hiện chương trình giáo dục mới.
    - Một số môn học và hoạt động giáo dục theo dự thảo có tính tích hợp. Nhưng nhà trường và giáo viên phổ thông bị động hoàn toàn, giáo viên được trang bị kiến thức liên môn còn rất ít . Cho nên khi xây dựng chương trình cụ thể cho từng môn học, cần phải có quy định hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn về môn, phần, số tiết, cách thức tiến hành và giáo viên thực hiện. …Thực tế thì có những giáo viên dạy Địa lí khi được nhà trường phân công dạy tích hợp với môn Lịch sử chỉ dạy khoảng hơn 20 phút là hết bài. Nếu hiểu theo nghĩa “dạy được” thì chẳng có gì sai nhưng để “dạy tốt” thì không phải ai cũng đáp ứng được.
    - Tổng số tiết các môn của 3 khối đều nặng, ngược lại với xu hướng giảm tải cho học sinh. Ở chương trình lớp 10 còn nặng, ngoài các môn hiện nay đang học còn thêm một số môn như: Hoạt động nghệ thuật, hoạt động trải nghiệm sáng tạo, tiếng dân tộc thiểu số, ngoại ngữ 2….Cần sắp xếp lại các môn học hợp lý, tránh dàn trải, giảm tải chương trình và có tính tập trung, hướng nghiệp cao cho HS.
    c. Một số kiến nghị, đề xuất
    - Chương trình ở các khối lớp
    + Đối với lớp 10: Chương trình còn nặng đối với học sinh, cần giảm số môn bắt buộc ở khối lớp 10 hoặc giảm tiết ở các môn sao cho học sinh không bị quá tải. (Học sinh lớp 10 có tới 15 môn học bắt buộc và tự chọn bắt buộc, chưa tính 2 môn tự chọn. Tổng số tiết trong một năm học 1110 tiết, bình quân 30 tiết/tuần).
    + Đối với lớp 11, 12: Đối với các môn tự chọn bắt buộc cần quy định số môn tối đa mà học sinh chọn là bao nhiêu. Trong dự thảo chỉ có quy định số môn tối thiếu. Học sinh lớp 11, 12 còn học nhiều môn do đó không có thời gian học các môn định hướng nghề nghiệp.
    + Đối với bậc học THPT không nên tách thành 2 giai đoạn (giáo dục cơ bản Lớp 10 và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp lớp 11, 12). Mà nên cố định môn học bắt buộc và môn học tự chọn cho cả 3 khối lớp. Hoặc chuyển lớp 10 xuống cấp học THCS thành hệ 5 năm (từ lớp 6 đến lớp 10).
    Môn Toán: Số tiết quy định là phù hợp nhưng ở mỗi bài học cần xây dựng kiến thức mang tính thực tế để HS thấy rõ việc cần thiết phải học toán. Nên có số lượng tiết toán ứng dụng vào thực tiễn hoặc toán học ứng dụng vào các môn học khác (liên môn). Đặc biệt là sách giáo khoa nên thể hiện rõ nội dung này để HS có thể đọc hiểu và tìm ra kiến thức phù hợp với phương pháp dạy, học mới. Môn Toán lớp 10 cần tăng lên là 140 tiết/năm học, đồng thời giảm tải nội dung môn Toán (phần Số phức)
    Môn Ngữ văn: Số tiết quy định là phù hợp, tuy nhiên cần đưa vào chương trình những tác phẩm văn học mới có tính nhân văn và thời đại bên cạnh những tác phẩm đã có trong chương trình hiện hành. Môn Ngữ văn cần tích hợp thêm nội dung giáo dục địa phương và hoạt động trải nghiệm thực tế. Chương trình văn học ở giai đoạn định hướng nghề nghiệp còn bao quát quá nhiều kiến thức, có thể sẽ gây cho học sinh áp lực nặng nề. Cho nên chỉ cần một số ít tác phẩm nhưng hay và đảm bảo định hướng năng lực toàn diện. Cần phải có khung chương trình cho cả ba khối ở các phân môn: đọc văn, Tiếng Việt, Làm văn cụ thể rõ ràng hoặc nếu có tích hợp liên môn cũng phải có chương trình cụ thể cho GV định hướng soạn giảng. Nếu rèn luyện ở các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cũng phải có sách hướng dẫn GV định hướng kiến thức dạy cho học sinh theo khung chương trình.
    Môn Ngoại ngữ: Cần tăng cường các tiết học của phần thực hành nói để học sinh có thể rèn luyện kĩ năng nói tốt hơn. Bên cạnh đó cần giảm sĩ số của một lớp học để việc giảng dạy ngoại ngữ đạt hiệu quả cao. Tổ chức đi thực tế, cho thêm các tiết ngoài trời. (ví dụ như tham quan các di tích lịch sử, địa danh liên quan tới bài học để học sinh có cơ hội tiếp xúc với giáo viên, người bản xứ). Cần trang bị hệ thống cơ sở vật chất đảm bảo để học sinh có thể hoàn thiện được cả 4 kĩ năng nghe- nói - đọc- viết.
    Môn Vật lý, Hóa học, Sinh học: Trang bị cho các nhà trường cơ sở vật chất, trang biết bị thí nghiệm thực hành sao cho phù hợp với chương trình để học sinh có thể phát huy đối đa khả năng thực hành và việc vận dụng kiến thức vào thực tế. Môn Hóa lớp 11 chương trình quá tải với học sinh, thời lượng ít không truyền thụ hết kiến thức cơ bản cho học sinh. Môn vật lí có thời lượng quá ít so với mặt bằng chung ở lĩnh vực giáo dục KHTN: (Theo bảng tổng hợp kế hoạch GDPT: vật lí, hóa học và sinh học đều 70 tiết/năm học). Môn vật lí phải đi đầu trong việc gắn kết liên môn, giải quyết phần lớn mục tiêu GD tổng thể ở lĩnh vực này. Bản thân môn học này từ trước đến nay là nghiên cứu sự vận động của thế giới tự nhiên, tìm ra những qui luật chung nhất, mang tính nguyên lí và từ đó tạo tính đột phá trong tất cả các cuộc cách mạng công nghệ. Xây dựng hệ thống các phòng thí nghiệm đảm bảo, đào tạo lại để đáp ứng các yêu cầu của chương trình mới.
    Môn Lịch sử: Bộ môn giáo dục khoa học xã hội (lịch sử, địa lý và GDCD) dự thảo vạch ra theo lộ trình là tìm hiểu từ đại cương thế giới, khu vực, Việt Nam và cuối cùng là địa phương. Trình tự như thế là chưa hợp lý, chưa sát với thực tế của các cấp học. Nên đưa tìm hiểu địa phương vào hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Việc xếp lịch sử vào môn học tự chọn chưa thực sự phù hợp bởi đây là môn học có vai trò quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng lòng yêu quê hương đất nước cho học sinh đặc biệt hiện nay, thực tế có nhiều học sinh không hứng thú với bộ môn này nên nếu đưa vào môn học tự chọn sẽ ảnh hưởng đến vấn đề phát triển toàn diện cho học sinh.
    Môn Tin họcnội dung giáo dục tin học THPT được phân chia theo hai giai đoạn. Giai đoạn thứ 2 là giáo dục định hướng nghề nghiệp, ở lớp 11 và 12 Tin học ứng dụng và Khoa học máy tính là nhữngmôn học tự chọn bắt buộc theo sở thích và định hướng nghề nghiệp của học sinh. Muốn đạt được kết quả tốt thì bản thân giáo viên phải có kiến thức rộng, hiểu biết nhiều các kiến thức liên quan đến tin học. Nên cần mở lớp bồi dưỡng cho giáo viên dạy tin bậc trung học phổ thông hoặc đào tạo mới, đào tạo lại đó là việc cần làm trước thời điểm triển khai chương trình giáo dục phổ thông đổi mới. Muốn bộ môn tin học, học có kết quả tốt nhất thì cần phải có trang thiết bị đầy đủ, nâng cấp, mua sắm đồ dùng dạy học để đáp ứng được yêu cầu của chương trình mới. Để đáp ứng nhu cầu hiện tại của xã hội, Yêu cầu cho môn tin cơ bản lớp 10 vào làm môn học bắt buộc và môn tin 11, 12 nên dạy chương trình ứng dụng thiết thực hơn.
    - Các môn Mỹ thuật, âm nhạc hiện chưa có giáo viên THPT cần đào tạo bồi dưỡng GV kịp thời để kịp thực hiện chương trình
    + Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp nên bổ sung chủ đề lịch sử về quan hệ giữa Việt Nam và các nước phương Tây cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ở chuyên đề học tập nên xây dựng hệ thống chuyên đề học tập chung cho cả tỉnh nhằm mang tính thống nhất về tính Đảng và nội dung. Giáo dục định hướng nghề nghiệp sớm, cho nên sức ép về gánh nặng chương trình bị dồn xuống cấp dưới, quá tải cho học sinh tiểu học và THCS. Vì vậy sách giáo khoa cũng cần giới hạn lại kiến thức.
    Môn Giáo dục thể chất, hầu hết được hoạt động với tính chất thể dục, thể thao. Trong khi đó môn này còn đòi hỏi về bồi dưỡng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, sức khỏe tâm thần... Liệu đội ngũ giáo viên thể dục hiện nay có thể đảm trách? Như vậy phải bồi dưỡng làm sao, kết hợp với giáo viên bộ môn khác như thế nào? Môn giáo dục thể chất trong giai đoạn định hướng nghề nghiệp học sinh được chọn học môn thể thao phù hợp, tuy nhiên điều kiện cơ sở vật chất các trường không thể đáp ứng hết các môn thể thao, vì vậy nên quy định lựa chọn trong một số môn thể thao nào đó, mà các trường đều có khả năng đáp ứng được.
    - Các chuyên đề học tập (15 tiết/chuyên đề) có thể tích hợp các kiến thức KHTN môn Lí- Hóa- Sinh thì giáo viên nào sẽ dạy các chuyên đề đó.
    - Đối với môn hoạt động trải nghiệm sáng tạo: Có 3 tiết/tuần là tương đối nhiều, việc tổ chức dạy sẽ gặp khó khăn. Vì hoạt động trải nghiệm sáng tạo không thể tổ chức dạy trên lớp nên việc quản lí học sinh sẽ rất khó khăn khi học sinh ra ngoài phòng học. Bên cạnh đó hiện tại chưa có giáo viên phổ thông nào được đào tạo để dạy môn này, do đó cần tổ chức bồi dưỡng đào tạo giáo viên để có thể giảng dạy đạt hiệu quả tối đa. Môn trải nghiệm sáng tạo, GV dạy cho HS như thế nào? Chương trình mới phải có quy định rõ để các trường vận dụng. Tránh tình trạng lợi dụng trải nghiệm sáng tạo để biến thành du lịch trá hình, gây tốn tiền của phụ huynh học sinh, từ đó phát sinh các vấn đề về thu chi, lạm thu trong nhà trường…
    - Đối với các môn học mới như Âm nhạc, Mỹ thuật, Khoa học máy tính, Thiết kế-CN, Kinh tế&PL . . . sẽ đặt ra yêu cầu là ai dạy? nếu sử dụng lực lượng giáo viên hiện tại của các môn Công nghệ, GDCD, Tin học có đảm bảo chất lượng hay không? Cần có lộ trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và trang bị cơ sở vật chất phù hợp để có thể triển khai sao cho đạt hiệu quả. Với cấp THPT nên đưa hoạt động nghệ thuật và thiết kế công nghệ sang môn tự chọn.
    - Cơ sở vật chất của nhiều trường còn chưa có trang bị đủ để thực hiện chương trình GDPT đề ra. Cần đầu tư trang thiết bị, phòng học bộ môn, dụng cụ, sân bãi phong phú hơn thì mới đáp ứng được mô hình học tập mới. Để thực hiện được chương trình mới sẽ mất rất nhiều thời gian để đào tạo đội ngũ giáo viên. Để đạt chuẩn giáo viên thì phải đào tạo đội ngũ mới trong khi đó cả nước hiện nay tình trạng thừa giáo viên ở các môn học khác đang diễn ra phổ biến. Việc đổi mới cần đi đôi với đầu tư cơ sở vật chất ở các trường học bởi cơ sở vật chất hiện nay ở hầu hết các trường tôi nghĩ chưa đáp ứng được nếu đưa chương trình mới vào dạy học.
    - Cần có cơ chế phân cấp mạnh hơn trong việc tuyển dụng, tiếp nhận, đào tạo bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực cho Hiệu trưởng các nhà trường.
    - Nên đưa giáo dục tinh thần phản biện (critical thinking) vào trong thiết kế Chương trình giáo dục phổ thông quốc gia, và nhấn mạnh nó như là những năng lực cốt lõi làm nên chất lượng của sản phẩm đào tạo, làm nền tảng cho mọi nội dung, công đoạn và hành động giảng dạy - học tập trong nhà trường. Tinh thần phản biện không chỉ là chuyện luôn nói "phản" lại những gì có sẵn. Đứng trước một động cơ, nếu học sinh không có óc phản biện thì sẽ đơn giản biết và chấp nhận động cơ đó vận hành như thế, không muốn tò mò, đặt câu hỏi hay tìm hiểu về nó, nhưng một học sinh có tinh thần phản biện sẽ tò mò, sẽ đặt câu hỏi trên nguyên lý vận hành và muốn khám phá…
    - Cần làm rõ giải pháp đảm bảo thực hiện chương trình trong đó có đội ngũ giáo viên như: Đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trinh độ giáo viên, bổ sung giáo viên chuyên biệt do chương trình yêu cầu, nhất là các môn học mới phát sinh.
    Đối với việc thừa thiếu giáo viên do học sinh chọn môn học ở lớp 11, 12
    Ở lớp 11 và 12 học sinh sẽ chọn môn học theo định hướng nghề nghiệp, do đó sẽ xuất hiện tình trạng thừa, thiếu cục bộ giáo viên ở các bộ môn tự chọn. Nếu học sinh của 1 trường tự chọn môn Vật Lí rất ít thì giáo viên dạy Vật Lí sẽ làm gì trong tương lai; và mỗi trường, mỗi năm học số tiết dạy bộ môn Vật Lí sẽ thay đổi thì sở giáo dục sẽ bố trí giáo viên như thế nào để phù hợp. Vì vậy, đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất với Chính phủ để có phương án xử lí trình trạng này (đào tạo lại hay thực hiện chế độ nghỉ việc, thôi việc phù hợp . . .).
    - Nên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho giáo viên từ 6 tháng đến 1 năm trước thời gian thực hiện đổi mới, để đội ngũ giáo viên giảng dạy trực tiếp có thời gian tiếp cận, chuẩn bị , tìm tòi phương án tốt nhất cho việc giảng dạy môn học của mình, nhằm đem lại hiệu quả cao trong giáo dục. Tránh được tình trạng làm thế hệ học sinh những năm đầu đổi mới là thế hệ thử nghiệm. Một số giáo viên không đáp ứng được yêu cầu kiến thức, phương pháp dạy học chương trình mới.
    - Sách giáo khoa nên thống nhất, chỉnh sửa và phát hành sớm hơn thời gian đổi mới một năm, để giáo viên và học sinh có thể tiếp cận sớm.
    - Cách ghi các môn học không thống nhất với nhau: Ở phần 1 của mục IV (Các giai đoạn giáo dục cơ bản): Bảng tổng hợp kế hoạch giáo dục tiểu học và THCS, các môn học Lịch sử và Địa Lý ghi là môn Lịch sử và Địa Lý, trong khi đó nội dung 7 của phần V môn lịch sử và Địa Lý lại ghi là Giáo dục Khoa học xã hội.
    - Ở nội dung 3 của mục IX (Biểu hiện năng lực của học sinh): Có 3 nhóm năng lực chung là Tự chủ và tự học, Giao tiếp và hợp tác, Giải quyết vấn đề và sáng tạo và có 8 năng lực chuyên môn liên quan đến các môn học, thế nhưng các năng lực chung chưa cụ thể ở các năng lực chuyên môn (có nhiều năng lực chung không có thể hiện gì ở năng lực chuyên môn).
    - Đề nghị Bộ GDĐT công khai sớm các tổ hợp môn để xét, thi vào các trường đại học, cao đẳng có đầy đủ các bộ môn vừa chính ( Toán, Văn, Ngoài ngữ ) vừa phụ (Sử, Địa, Lí , Hóa, Công Dân...) để việc lựa chọn bộ môn học của học sinh được thuận lợi hơn. Vì trong thực tế các em sẽ chọn những môn học tự chọn nào có liên quan đến ngành học, trường đại học mà mình sẽ chọn trong tương lai.
    - Ban soạn thảo chương trình cần phải chú ý đến: Tính khả thi của chương trình sao cho phù hợp điều kiện giáo dục nước ta, đặc biệt là chú ý đến các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng có tỉ lệ người đồng bào dân tộc thiểu số cao. Ở những vùng có cơ sở vật chất khó khăn như vùng Tây Bắc, Tây Nguyên hay Tây Nam Bộ và các vùng xa xôi, hẻo lánh thì khó thực hiện.
    - Các môn âm nhạc, ngoại ngữ 2 và đặc biệt là mỹ thuật ở vùng nông thôn và miền núi có thể rất ít học sinh đăng ký chọn dẫn đến việc tổ chức lớp học sẽ gặp nhiều khó khăn…
    - Chương trình nên đưa kèm theo thống kê về nguồn nhân lực, đặc biệt đội ngũ giáo viên để thực hiện chương trình mới theo từng bộ môn và yêu cầu đối với đội ngũ này. Nếu đội ngũ chưa đạt yêu cầu thì phải xử lí như thế nào. Đề nghị Bộ GDĐT có số liệu thống kê về đội ngũ GV, cơ sở vật chất hiện tại ở tất cả các cấp học, bậc học, đồng thời lập số liệu dự báo về đội ngũ GV, cơ sở vật chất khi áp dụng chương trình mới. Từ đó có kế hoạch tổng thể về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV và có kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất theo lộ trình phù hợp và có tính khả thi dựa trên nguồn lực của nước ta hiện nay.

    Trân trọng!

Ủng hộ bài viết này