Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Sau khi nhận được chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đã tổ chức cho các trường THPT, THCS, Tiểu học trên địa bàn thành phố nghiên cứu, góp ý cho chương trình này. Trên tinh thần trách nhiệm cao, các trường THPT, THCS, Tiểu học tại Hà Nội đã có nhiều ý kiến đóng góp cho bản dự thảo. Sở GD&ĐT Hà Nội xin tổng hợp các ý kiến đóng góp của 16 cụm trường THPT, các quận, huyện và các ý kiến đóng góp tại Hội thảo góp ý Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể, tổ chức tai trường Bồi dưỡng Cán bộ Giáo dục Hà Nội. Tất cả các ý kiến góp ý cho bản dự thảo chương trình GDPT được tổng hợp như sau:
    A. Phần ưu điểm
    - Chương trình tổng thể tiến tới gần với chương trình trên thế giới, phù hợp xu thế thời đại.
    - Thực hiện đúng tinh thần NQ 88 của Quốc Hội về đổi mới sách giáo khoa và đổi mới chương trình Giáo dục phổ thông.
    - Chương trình gắn với thực tiễn, học sinh có cơ hội hình thành phát triển kỹ năng sống tốt hơn, có năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong hoạt động.Chương trình đã khắc phục được những quan điểm, yêu cầu cào bằng, bình quân chủ nghĩa, thay vào đó, chương trình đã quan tâm đúng mức đến đặc điểm tâm lí của mỗi cá thể con người, thể hiện ở chỗ kiên quyết giảm bớt các môn học bắt buộc, tăng các môn tự chọn.
    - Chương trình đã nhấn mạnh quan điểm về mục tiêu dạy người, giúp học sinh hình thành nhân cách người lao động, nhân cách công dân, tránh được sự lạc hướng mục tiêu dẫn đến chạy theo thành tích, chỉ đơn thuần là đào tạo tầng lớp trí thức nặng về lí thuyết, bằng cấp, thoát li lao động.
    - Về những phẩm chất, chúng tôi hoàn toàn nhất trí đưa ra các cặp phẩm chất chủ yếu, trong đó, lòng yêu nước mà nhiều ý kiến băn khoăn chưa được nhắc đến trong những văn bản trước nay đã được đưa vào cùng với lòng yêu con người (nhân ái).
    Khi hoàn thành cấp THCS, học sinh có đủ kiến thức bước vào đời.
    Khung chương trình mở, phát triển sự sáng tạo cho giáo viên.
    B. Nhận xét chi tiết từng phần
    I. Một số nội dung chương trình
    1. Những vấn đề chung
    1.1. Dự thảo CT tổng thể đã thể hiện được các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ.
    1.2. Dự thảo CT tổng thể đã bước đầu tiếp cận xu hướng phát triển CT GDPT của các nước tiên tiến, xây dựng CT theo hướng mở, chú trọng tới kỹ năng vận dụng các kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; giúp học sinh phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần tích cực chủ động sáng tạo tự tin : Mức độ khá.
    1.3. Dự thảo CT tổng thể có kế thừa các CT GDPT đã có của Việt Nam ở mức độ toàn diện phát huy phẩm chất và năng lực để trở thành những công dân toàn cầu có trách nhiệm với gia đình, quê hương đất nước.
    1.4. Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp nhằm giúp học sinh phát triển theo các chuẩn mực chung của xã hội, năng lực phẩm chất của người lao động, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực sở thích, điều kiện hoàn cảnh môi trường.
    1.5. Các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp : Học sinh biết tự đánh giá năng lực bản thân phù hợp với xã hội trong thời đại toàn cầu hóa.
    1.6. Các năng lực chuyên môn cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp : Giúp Học sinh hình thành năng lực, phát triển tự chủ sáng tạo .
    1.7. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp,
    1.8. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo là phù hợp. Bên cạnh việc hình thành phát triển các năng lực cốt lõi, CT GDPT góp phần phát triển bồi dưỡng năng lực đặc biệt, năng khiếu cho học sinh, năng lực tính toán, năng lực ngôn ngữ, năng lực tìm hiểu tự nhiên, xã hội…
    2. Kế hoạch giáo dục
    2.1. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” về cơ bản là hợp lý, tạo điều kiện cho học sinh có thể lựa chọn các môn học theo năng lực cá nhân.
    Môn ngoại ngữ 1 (NN1) nên thống nhất chung là tiếng Anh vì hiện nay đa số các trường đang dạy ngoại ngữ là Tiếng Anh
    2.2. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của CT GDPT tương đương với 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương” chưa thực sự hợp lý đặc biệt là ở lớp 10. Cụ thể :
    Chương trình chưa thực sự giảm tải cho người học với 15 môn học cho học sinh lớp 10 và thời lượng 29 - 30 tiết/tuần học, tổng số tiết trong một năm học từ 985 tiết đến 1.184 tiết học. Như vậy sẽ còn rất ít hoặc không có thời gian cho các hoạt động ngoài trời, ngoại khóa, bao gồm cả giờ Chào cờ và sinh hoạt lớp.
    2.3. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã phù hợp.
    2.4. Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học về cơ bản đã hợp lý.
    - Cần làm rõ nội dung của hoạt động “ Trải nghiệm sáng tạo”, nếu nội dung của hoạt động này là các bài thực hành thực tế của các môn học thì nên lồng ghép vào nội dung của từng môn thì sẽ phù hợp và dễ tổ chức thực hiện hơn. Nên coi đây là hoạt động giáo dục sẽ phù hợp hơn là để tồn tại như một môn học.
    2.5. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp còn khá nặng, ví dụ cấp THCS, THPT, bình quân mỗi ngày học sinh học 5 tiết, vì vậy các nhà trường rất khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động khác của nhà trường .
    2.6. Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy học nội dung giáo dục của địa phương”. Quy định như vậy là hợp lý.
    2.7. Việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo CT tổng thể) nhìn chung là phù hợp với nguyện vọng của học sinh, phù hợp với năng lực cá nhân, sở thích của học sinh, tuy nhiên vẫn là quá chung chung, và khó khăn cho cả người học và người dạy. Vì để thực hiện theo nguyện vọng của học sinh thì nhà trường gặp khó khăn, phải tuyển thêm giáo viên hoặc sa thải giáo viên. Một số ý kiến cho rằng trong giai đoạn trước mắt 1 giáo viên có thể dạy nhiều môn. Ở cấp Tiểu học là khả thi, nhưng với cấp THPT các nhà trường sẽ gặp khó trong công tác nhân sự, vì có những môn học sinh đăng kí học ít thì giáo viên môn học đó sẽ dư thừa.Nhà trường nếu không giải quyết được tình trạng này, để giáo viên dạy chéo môn thì sẽ ảnh hưởng đến chất lượng dạy – học. Như vậy, sẽ thiệt thòi cho người học.
    Vẫn duy trì cách học và thi như hiện nay là tương đối hợp lí. Học sinh vẫn học hết các môn đến hết lớp 12, nhưng học sinh được lựa chọn các môn thi tốt nghiệp và thi đại học tùy theo sở trường của bản thân. Vẫn thỏa mãn nhu câu của học sinh, cũng giúp cho học sinh có kiến thức cơ bản đầy đủ, và không quá xáo trộn trong công tác của các trường.
    3. Định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Dự thảo CT tổng thể nêu: “Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GDĐT được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông” vẫn còn cần xem xét như:
    + Duy trì việc đánh giá và xét tốt nghiệp như hiện nay là hợp lí, có kết hợp giữa kết quả rèn luyện và kết quả thi khách quan, bắt buộc học sinh phải học, giáo viên phải có trách nhiệm tránh tình trạng cho điểm không khách quan giữa các trường và các giáo viên.
    II. Điều kiện thực hiện chương trình phổ thông
    1. Quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT là phù hợp.
    2. Quy định hiện hành về số lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thôngcần tăng thêm giáo viên ngoại ngữ, nhất là khối Tiểu học.
    3. Quy định hiện hành về cơ sở vật chất đối với các trường trung học phổ thông còn thiếu về cơ sở vật chất thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy một số bộ môn mới: Môn Mỹ Thuật, Âm nhạc, Thiết kế và công nghệ ….
    4. Nhất trí với qui định hiện hành trong dự thảo về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
    5. Đối với trường tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2buổi/ngàycần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 - 2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022 - 2023 dạy học 2 buổi/ngày chotất cả các lớp tiểu học” là phù hợp.
    6. Môn học tự chọn của lớp 11, 12 sẽ gây khó khăn trong việc tuyển giáo viên. Nên giao quyền cho Hiệu trưởng ký hợp đồng với giáo viên để phù hợp với việc học tự chọn của học sinh. Vì số lượng học sinh đăng ký theo từng môn không tương đương nhau, điều này dẫn đến có môn thiếu giáo viên, có môn lại thừa giáo viên; và sau mỗi năm học, sự xáo trộn này lại diễn ra vì không phải năm nào số lượng học sinh đăng ký từng môn là như nhau.
    7. Những môn học, hoạt động giáo dục trong dự thảo CT tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường hiện nay đó là:
    Sự xuất hiện của môn năng khiếu như Nhạc, Họa cũng là khó khăn đối với các trường THPT vì hiện tại chưa có giáo viên đủ trình độ và năng lực chuyên môn, được đào tạo bài bản để dạy những môn này. Một số môn học mới như Trải nghiệm sáng tạo, Thiết kế và công nghệ…bước đầu cũng sẽ gặp khó khăn về nguồn nhân lực.
    8. Để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo CT tổng thể có cần cải thiện cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường như:
    - Cần đầu tư và trang bị đầy đủ hơn về cơ sở vật chất cho các môn học
    - Thiết kế lớp học phù hợp, bàn ghế và số lượng học sinh.
    - Tu sửa nhà đa năng, phòng tập thể thao.
    - Xây dựng bể bơi.
    9. Góp ý cụ thể
    1/Sớm có chương trình chi tiết cho các bộ môn.
    - Kiến thức từng cấp học, từng môn học nên được học cuốn chiếu. Kiến thức phổ nên giải quyết hết đến lớp 10.
    - Gói gọn chương trình các môn học để tránh học sinh học vào nhiều thời điểm
    - Tăng thời lượng môn ngoại ngữ để học sinh đủ trình độ hội nhập. 3 tiết/ tuần quá ít với học sinh trung học.
    - Môn tiếng Anh nên để là NN1 và các ngoại ngữ khác là NN2 dễ cho công tác quản lý và phù hợp với việc sử dụng tiếng Anh trên Thế giới.
    2/ Chương trình hướng nghiệp có phân luồng nghề nghiệp nhưng mới có 2- 3 ngành chưa toàn diện. Nên đưa thêm ngành nghề cho cho học sinh.
    3/ Nếu để hoạt động trải nghiệm sáng tạo tồn tại như 1 môn học, cần định nghĩa rõ về môn này và phải tính đến đào tạo nguồn lực phục vụ giảng dạy môn học. Nên lồng ghép hoạt động này vào nội dung của từng môn thì sẽ phù hợp và dễ tổ chức thực hiện hơn, vì môn học nào cũng có trải nghiệm sáng tạo và giáo viên sẽ dễ tổ chức các hoạt động trải nghiệm thuộc về chuyên môn mình phụ trách. Cũng cần tính đến nguồn kinh phí để tổ chức hoạt động này.
    4/ Đã có khung chương trình mở, nên giao đơn vị kiến thức cho giáo viên và giáo viên được quyền quyết định thời gian hoàn thành, nếu vẫn là chia khung, tiết, bài dạy, giáo viên rất khó làm.
    5/ Chương trình mới, cần có tư duy mới của giáo viên. Việc đào tạo giáo viên và triển khai thí điểm tại một số địa bàn là cần thiết trước khi làm đại trà.
    Nếu phương pháp giảng dạy của giáo viên không thay đổi, năng lực không đáp ứng thì vẫn không có hiệu quả.
    6/ Đầu tư cơ sở vật chất, sân bãi, phát triển giáo dục thể chất. Đây là 1 môn học xuyên suốt và quan trọng trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh.
    7/ Cùng thuộc về môn khoa học là Tin học hoặc môn nghệ thuật là Âm nhạc…nhưng trong CT GDPT mới, mỗi cấp học lại có những tên gọi khác nhau như: Khoa học máy tính, tin học ứng dụng, tin học, công nghệ… vậy nội dung môn học có lặp lại không, hàm lượng khoa học cơ bản của những môn học này có gì khác biệt.
    8/ Số tiết cho khối THCS-THPT =30 tiết, rất khó khăn cho các trường vì CSVC không thay đổi, nếu trường học 2 ca thì không có thời gian cho các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, các hoạt động tập thể khác. Cấp Tiểu học mỗi ngày cần có 1 tiết tự học có hướng dẫn.
    9/ Phân luồng học sinh hơi muộn. Tới hết lớp 10 mới định hướng nghề nghiệp theo phân hóa, hiệu quả chưa cao. Giáo dục bắt buộc nên dừng lại khi học sinh kết thúc cấp THCS - lớp 9.
    10/ Khái niệm: các môn học bắt buộc, bắt buộc có phân hóa, tự chọn bắt buộc và tự chọn nên phân thành 2 loại bắt buộc và tự chọn.
    11/ Cách kiểm tra đánh giá phải phù hợp với cách dạy tiếp cận năng lực học sinh.
    - Về năng lực (NL) Dự thảo đã đưa vào những năng lực chung mà những lần trước chưa được đưa vào một cách tường minh như năng lực giải quyết vấn đề là rất phù hợp. Chúng tôi đề nghị nên chăng đưa thêm NL thích ứng và NL thực hành, những năng lực mà ở các phần sau ta có nói đến nhiều, yêu cầu nhiều ở các môn học vào năng lực chung.
    12/ Phần cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên đều nói rất ngắn gọn là “ Bảo đảm qui định” và đáp ứng yêu cầu theo qui định của điều lệ trường phổ thông, nhưng là qui định nào, điều lệ nào. Nếu chương trình đổi mới mà lại tuân theo các qui định, điều lệ cũ thì sẽ vênh lớn và không tạo ra được đổi mới thực sự. Ví dụ, ngay cả những qui định và tiêu chí về trường chuẩn quốc gia mà ta đang thực hiện cũng không bảo đảm được những điều kiện tối thiểu để sự thực hiện chương trình đổi mới lần này. Ví dụ điều kiện về giáo viên và cơ sở vật chất kĩ thuật để các nhà trường thực hiện chương trinh các môn tự chọn, các học phần, các chuyên đề, thực hiện giáo dục Nghệ thuật, Mĩ thuật GD thể chất, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo… phải có các qui định mới, có sự ràng buộc pháp lí thì mới tạo điều kiện để chính quyền địa phương đầu tư và thực hiện bằng được.

    Trên đây là một số ý kiến góp ý cho chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của các trường ở Hà Nội. Nhìn chung, chương trình Dự thảo được đưa ra lấy ý kiến của xã hội là một Dự thảo chương trình tương đối hoàn chỉnh, thể hiện được sâu sắc tinh thần đổi mới theo NQ 29/TW của Trung ương Đảng, thể hiện trí tuệ, sáng tạo, có tính kế thừa và phát triển, tiếp thu được khá đầy đủ và cập nhật những ý kiến đóng góp có giá trị, có ý nghĩa thực tiễn của các nhà khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn giáo dục, của xã hội.

Ủng hộ bài viết này