Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    I. VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG DỰ THẢO CT TỔNG THỂ
    1. Những vấn đề chung
    1.1. Dự thảo CT tổng thể đã thể hiện việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ chưa, ở mức độ nào?
    Dự thảo CT giáo dục phổ thông tổng thể đã thể hiện việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện GD và đào tạo nêu tại Nghị quyết 29 của Đảng, Nghị quyết 88 của Quốc hội, thể hiện:
    - Đảm bảo theo quan điểm: chuyển định hướng giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực của người học;
    - Thể hiện được định hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và từng bước hội nhập với thế giới, đó là việc tăng cường các môn học Ngoại ngữ, Tin học, Nghệ thuật, tích hợp một số môn truyền thống thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, vận dụng tổng hợp các lĩnh vực: Toán học - Khoa học - Công nghệ - Kỹ thuật và hoạt động trải nghiệm sáng tạo, giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn và quan hệ cộng đồng.
    1.2. Dự thảo CT tổng thể đã tiếp cận xu hướng phát triển CT GDPT của các nước tiên tiến chưa, ở mức độ nào?
    Đã tiếp cận xu hướng phát triển chương trình của các nước tiên tiếnở mức độ phù hợp với tình hìnhđất nước ta giai đoạn hiện nay và một số năm tiếp theo.
    1.3. Dự thảo CT tổng thể có kế thừa các CT GDPT đã có của Việt Nam không, ở mức độ nào?
    Đã kế thừa các CT GDPT đã có của Việt Nam. Thể hiệnởmột số điểm của CT GDPT hiện hành được kế thừa trong CT GDPT mới như:
    - Về mục tiêu GDPT: CTGD mới tiếp tục mục tiêu giáo dục phát triển con người toàn diện “đức, trí, thể, mỹ”; hài hòa về thể chất và tinh thần; chú trọng các yêu cầu học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội…
    - Về nội dung giáo dục: CT GDPT mới tiếp tục tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hoá, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại; bảo đảm yêu cầu cơ bản, hiện đại,phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi của học sinh các cấp học.
    Nhìn chung hệ thống các lĩnh vực giáo dục và hệ thống các môn học của CT hiện hành được kế thừa từ tên gọi đến nội dung các mạch kiến thức lớn, thời lượng cho các môn học. Kiến thức cơ bản của tất cả các môn học ở CT phổ thông, nhất là một số môn học truyền thống của Việt Nam có thế mạnh, có chất lượng và hiệu quả (được chứng tỏ qua các kỳ đánh giá quốc gia và quốc tế) đều được kế thừa trong CTGD mới, chỉ bớt đi những kiến thức quá chuyên sâu, chưa/hoặc không phù hợp với yêu cầu học vấn phổ thông và tâm –sinh lý lứa tuổi, không phục vụ nhiều cho việc phát triển phẩm chất và năng lực. Nội dung các hoạt động giáo dục của CT hiện hành cũng được kế thừa trong Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của CTGD mới như chào cờ, sinh hoạt lớp, hoạt động đoàn đội, hoạt động ngoài giờ lên lớp v.v…
    - Về phương pháp dạy học: Phương pháp dạy học của CT mới thể hiện rõ tính kế thừa ở chủ trương tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và họctheo định hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh… Tất cả các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại đều được kế thừa trong CTGD mới với một tinh thần và định hướng tiếp tục đổi mới một cách hiệu quả hơn. Đó là vận dụng linh hoạt, kết hợp nhuần nhuyễn các PPGD phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh và đều hướng vào việchình thành, phát triển các phẩm chất và năng lực người học.
    - Về thi, kiểm tra - đánh giá: Tính kế thừa thể hiện ở chỗ, dù mục tiêu kiểm tra đánh gía hướng tớiđánh giá sự hình thành và phát triểnphẩm chất và năng lực nhưng vẫn phải dựa trên cơ sở hệ thống kiến thức, kĩ năng cơ bản thông qua các môn học và hoạt động giáo dục. Các hình thức và công cụ đánh giá như kiểm tra miệng, kiểm tra viết, câu hỏi trắc nghiệm, câu hỏi tự luận, đề thi/kiểm tra theo hướng mở, kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ,… đều được kế thừa trong CTGD mới, kết hợp và bổ sung thêm những hình thức và công cụ mới nhằm đánh giá đúng phẩm chất và năng lực của học sinh.
    - Về quy trình xây dựng CT: CT GDPT mới tiếp thu và kế thừa tất cả các ưu điểm về quy trình phát triển CT GDPT trước đây, từ việc đánh giá và xác định nhu cầu đổi mới; tiến hành các nghiên cứu cơ bản, đề xuất các căn cứ khoa học cho đến đề xuất các định hướng đổi mới… Bảo đảm các bước thiết kế CT phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế. Quy trình xây dựng từ dự thảo CT, xin ý kiến các chuyên gia/công luận đến việctiếp thu, sửa chữa, thẩm định và phê duyệt … đều kế thừa kinh nghiệm của lần đổi mới CT năm 2000.
    1.4. Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Đề xuất: Việc phân định nội dung giữa một số phẩm chất còn chồng chéo, chưa rõ ràng, như:
    - Phẩm chất “Yêu đất nước” với “Yêu con người” nên nhập thành một phẩm chất vì “Yêu đất nước” đã bao hàm cả “Yêu con người”, ở phẩm chất “Yêu con người”, nội dung thứ nhất “yêu quý mọi người” nên bổ sung thêm là “yêu quý bản thân và mọi người”;
    - Phẩm chất “Chăm học” và “Chăm làm” thành phẩm chất “Chăm chỉ” vì chăm làm đã bao hàm chăm học.
    1.5. Các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Đề xuất: Bổ sung thêm năng lực “Tự bảo vệ và chăm sóc bản thân” trong năng lực chung “Tự chủ và tự học” để cho học sinh biết cách tránh bị xâm hại.
    1.6. Các năng lực chuyên môn cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Thống nhất như dự thảo.
    1.7. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Trong Dự thảo phân chia theo từng cấp tuy nhiên chưa chuẩn xác, thiếu tính chặt chẽ, logic và khoa học. Cần diễn đạt lại, nếu để như hiện tại thì người đọc sẽ hiểu cấp THPT không cần những phẩm chất ở cấp THCS, TH và ngược lại.
    Sau cáclần lấy ý kiến cơ sở, dự thảo lần này thấy các nhóm phẩm chất có thay đổi cách gọi so với trước, nhiều giáo viên đang băn khoăn chưa biết phẩm chất được hiểu và nên hiểu như thế nào cho đúng, nhiều ý kiến cho rằng nên để như dự thảo lần thứ 2.
    Đề xuất: Cần gắn liền biểu hiện Phẩm chất với sự nhận thức, mức độ tư duy của từng cấp học; không nên diễn đạt một cách chi tiết mà cơ học như trong dự thảo.
    1.8. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Thống nhất như dự thảo.
    2. Kế hoạch giáo dục
    2.1. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Các môn thì thấy hợp lí; tuy thuật ngữ “môn học tự chọn bắt buộc” có cảm giác phức tạp về thuật ngữ.
    Đề xuất:
    - Cấp Tiểu học:
    + Bỏ môn học bắt buộc có phân hóa ở cấp tiểu học. Lí do vì học sinh tiểu học chưa biết lựa chọn các môn hay chủ đề phù hợp với bản thân. Nếu theo nguyện vọng của học sinh (chủ yếu sẽ là phụ huynh lựa chọn cho học sinh) có thể sẽ có những môn học hay hoạt động mà học sinh lựa chọn nhưng nhà trường không đáp ứng được do chưa đảm bảo về cơ sở vật chất, giáo viên,... Do đó có thể sẽ xẩy ra việc ép học sinh lựa chọn chủ đề theo điều kiện đáp ứng của nhà trường.
    + Thêm môn học tự chọn ở cấp tiểu học để học sinh có nhiều lựa chọn. Bởi theo dự thảo, cấp tiểu học chỉ có môn học tự chọn là “Tiếng dân tộc thiểu số”. Nếu một trường hay một địa phương không có học sinh dân tộc thiểu số sẽ không có môn học để tự chọn.
    - Cấp THCS: Nên đưa giáo dục thể chất vào môn học bắt buộc thay vì để ở nhóm “các môn bắt buộc có phân hóa” sẽ phù hợp với tâm lý, lứa tuổi củađa số học sinh THCS.
    - Cấp THPT: Ở lớp 11, 12: Môn Toán và Ngữ văn nên ở hai nhóm: Bắt buộc và Tự chọn bắt buộc (như ở dự thảo lần 1) nhằm mục đích phân hóa cho hai đối tượng: Học ở mức độ xét tốt nghiệp và ở mức độ cần sử dụng Toán, Ngữ văn để phục vụ cho việc định hướng nghề sau THPT. Nếu bắt buộc như trong dự thảo thì vô tình xem tất cả học sinh đều có nhu cầu học môn Toán, môn Ngữ văn như nhau trong lúc thực tế không phải như vậy (đặc biệt là môn Toán: thực tế phổ điểm thi THPT quốc gia của môn Toán trên toàn quốc trong các năm gần đây phân hóa mạnh nhất, số điểm liệt nhiều, điểm thấp chiếm tỉ lệ lớn).
    2.2. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của CT GDPT tương đương với 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Đề xuất:
    -Cấp Tiểu học:
    + Điều chỉnh thời gian thực học các môn học của CT GDPT tương đương với 35 tuần. Lí do, việc tăng 2 tuần sẽ ảnh hưởng đến khối lượng công việc của giáo viên và thời gian giáo viên tự bồi dưỡng trong hè; thời gian học sinh học nhiều hơn nên ảnh hưởng đến việc vui chơi, nghỉ hè của học sinh.
    + Nội dung giáo dục địa phương không tách riêng ra mà tích hợp vào các môn học và hoạt động giáo dục. Lí do, thực tế để xây dựng chương trình, nội dung và viết sách phần giáo dục địa phương gặp nhiều khó khăn và không phù hợp với đối tượnghọc sinh TH. Tích hợp nội dung giáo dục địa phương vào các môn học và hoạt động giáo dục sẽ giúp học sinh khắc sâu kiến thức và liên hệ với bài học thuận lợi hơn.
    +Nên có 1 tuần (ngoài 35 tuần thực học nói trên) cho học sinh làm quen với trường/lớp/giáo viên/điều kiện dạy học…ngay sau ngày tựu trượng để chuẩn bị cho học sinh cả về động hình, kĩ năng, tâm thế; tìm hiểu nội quy, quy chế, truyền thống nhà trường,… để tiếp cận với các môn học và môi trường học tập mới, nhất là các lớp đầu cấp.
    - Cấp THCS; THPT: Việc thực hiện 37 tuần thực học sẽ gây khó khăn cho các cơ sở giáo dục trong việc bố trí thời gian năm học (có thể phải bắt đầu năm học từ ngày 10 tháng8 hàng năm, thời gian này ngoại trừ những vùng đặc thù (hay có bão, lũ lụt, hạn hán..) thì các cơ sở giáo dục nói chung đang phải bồi dưỡng, tập huấn các nội dung chuyên môn/nghiệp vụ do Bộ/Sở triển khai đến cán bộ quản lý, giáo viên.
    Đề nghị: Chỉ thực hiện 35 tuần thực học (vì trong một năm họccó khoảng hơn 2 tuần dành cho các ngày nghỉ lễ, tết).
    Ngoài ra, nếu có 37 tuần thực học, trong đó có 2 tuần dành cho học môn tự chọn và nội dung giáo dục địa phương như dự thảo thì có thể xảy ra tình trạng:
    Trường không học tự chọn hoặctrườnghọc môn tự chọn quá nhiều thì việc bố trí sẽ như thế nào? Đề nghị Bộ nên có dự báo và giải pháp cho tình huống này.
    2.3. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học nhiều hay ít? Nếu nhiều (ít) thì nên giảm (tăng) như thế nào?
    Số lượng môn như thế là phù hợp
    2.4. Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý.
    Tên gọi các môn là phù hợp, trừ hai môn:
    - Thế giới công nghệ ở cấp Tiểu học;
    - Giáo dục Ngôn ngữ ở cấp THPT: Chưa thấy nêu tên gọi là gì (ở Tiểu học thì gọi là Tiếng Việt, ở THCS thìgọi là Ngữ văn).
    Đề xuất:
    + Đổi tên môn học “Thế giới công nghệ” thành “Tìm hiểu công nghệ” vì từ “thế giới” quá trừu tượng và rộng lớn đối với học sinh lớp 1, 2, 3.
    + Thống nhất tên môn học cho tất cả các lớp như: Cuộc sống quanh ta – lớp 1, 2, 3 và Tìm hiểu xã hội, Tìm hiểu tự nhiên – lớp 4, 5; Thế giới công nghệ - lớp 1, 2, 3 và Tìm hiểu tin học, Tìm hiểu công nghệ - lớp 4, 5.
    2.5. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    - Thời lượng giáo dục các môn học ở cấp tiểu học chưa hợp lý : “Mỗi tiết học cho lớp 1 và lớp 2 từ 30 phút đến 35 phút; cho lớp 3, lớp 4 và lớp 5 từ 35 phút đến 40 phút; giữa các tiết học có thời gian nghỉ”.
    Đề xuất: “Mỗi tiết học ở tiểu học có thời lượng 35 phút; giữa các tiết học có thời gian nghỉ”.
    - Thời lượng giáo dục các môn học tự chọn bắt buộc ở lớp 11,12(từ 105 đến 140 tiết) là quá nhiều, hơn nữa nếu học sinh tự chọn tổ hợp tự nhiên (Vật lý, Hóa học, Sinh học) và một chuyên đề học tập thì thời gian của các môn tự chọn lớn hơn 400 tiết (vượt xa so với phương án mà chương trình đưa ra là 330 tiết) nên khó thực hiện khi mà học sinh có nhu cầu học thêm một tổ hợp môn khác.
    Đề xuất:
    + Giảm các môn tự chọn bắt buộc từ140 tiết xuống 105 tiết;
    + Những khối có 30 tiết/ tuần cần giảm xuống khoảng 28 tiết/tuần.
    - Hoạt động trải nghiệm mỗi tuần có 3 tiết: Cấp THCS, THPT có thể thực hiện được; riêng ở cấp TH thì nặng, nên giảm xuống 2 tiết/tuần.
    - Về giáo dục địa phương: Lâu nay vấn đề giáo dục địa phương chưa được đặt xứng tầm với mục tiêu giáo dục tình yêu, trách nhiệm của công dân đối với làng xóm, quê hương. Bộ cần làm rõ nội dung giáo dục địa phương thực hiện ở những môn họcnào (vì có những môn học khó thực hiện nội dung giáo dục địa phương như môn Toán, Lý, Hoá) vàđinhỵ hướng một số chủđè dạy học gắn với giáo dụcđịa phương.Cầnđịnh hướng rõ cách viết tài liệuđịa phương để cácđơn vị dễ vận dụng trong quá trình biên soạn tài liệu.
    Đề xuất: Giáo dục địa phương nên đưa vào môn Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân và một số chủ đề trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    2.6. Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy họcnội dung giáo dục của địa phương”. Quy định như vậy đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Mục tiêu là hướng đến cấp tiểu học được học 2 buổi/ngày, tuy nhiên có nhữngđịa phương chưa cóđủđiều kiện học 2 buổi/ngày thì thực hiện các phương án mà dự thảođưa ra làhợp lý.
    2.7. Theo Thầy (Cô), việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo CT tổng thể) phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường có ưu điểm gì, hạn chế gì?
    - Ưu điểm:
    + Học sinh được chọn đúng theo sở trường và niềm đam mê của mình;
    + Phù hợp với việc định hướng nghề nghiệp sau THPT.
    - Hạn chế:
    + Có quá nhiều tổ hợp để chọn 3 môn trong 11 môn và 1 chuyên đề học tậpnên rất khó cho đa số các trường trong việc bố trí sắp xếp đội ngũ giáo viên, vì thực tế ở một số môn đặc thù thì hiện nay đang thiếu giáo viên hoặc chất lượng giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu, trong lúc nhu cầu lựa chọn môn học và chuyên đề học tập lại thay đổi hàng năm ở mỗi nhà trường mà việc bố trí, luân chuyển giáo viên hàng năm là rất khó thực hiện;
    + Chuyên đề học tập cho phép thực hiện liên trường: Điều nay rất khó thực hiện vì nhiều lý do như: khoảng cáchđi lại của học sinh, việc bố thời gian học chính khóaở trường và học tự chọnở trường khác hoặc bố trí thời khóa biểu cho việc học tự chọn liên trường;
    Đề xuất:Thực hiện việc tự chọn bắt buộc nhưng có định hướng, nên chăng trong việc định hướng nghề nghiệp sau THPT, Bộ chỉđạocác trường Đại học, Cao đẳng và các trường nghề làm tốt việc xây dựng chương trìnhđào tạo sao cho học sinh THPTdễ lựa chọn các môn học/tổ hợp môn học và chuyên đề học tập, để các trường THPT định hướng cho học sinh lựa chọn và thuận lợi trong việc tổ chức dạy học.
    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Dự thảo CT tổng thể nêu: “Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GDĐT được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Dự thảo nêu rất chung chung nên chưa thể hình dung được, đặc biệt là phần đánh giá phẩm chất học sinh.
    Đề xuất: Nên nêu cách đánh giá cụ thể hơn để xem xét có phù hợp điều kiện thực tế hay không, có thể thực hiện được hay không.
    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CT GDPT
    1. Quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Quy định hiện hành về số học sinh trên lớp của cấp THCS và THPT không quá 45 em/lớp là đang quá nhiều, khó khăn trong việc thực hành của học sinh khi thực hiện chương trình mới.
    Đề xuất: Nên quy định ở hai mức độ:
    - Không quá 45 em/lớp đối với các thành phố lớn hoặc các vùng có mật độ dân số cao;
    - Không quá 35 em/lớp đối với các tỉnh thành còn lại và các vùng có mật độ dân số thấp.
    2. Quy định hiện hành vềsố lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Quy định hiện hành về số lượng và cơ cấu giáo viên theo tỉ lệ số giáo viên/lớp dẫn đến thừa thiếu cục bộ về giáo viên giữa các bộ môn gây khó khăn cho các nhà trường trong việc bố trí, sắp xếp dạy học.
    Đề xuất: Nên quy định rõ tỉ lệ giáo viên/lớp (phảităng hơn so với hiện nay, vì thực hiện chương trình mớiđòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian, công sức hơn mới thực hiện được các nội dung dạy học và các hoạt độnggiáo dục) và bảođản tỉ lệ giáo viên theo cơ cấu môn học/hoạt động giáo dục (tránh tình trạng giáo viên dạy chéo môn).Giao quyền chủ động cho các nhà trường hợp đồng giáo viên đápứng yêu cầu dạy học, giáo dục khi chưa thực hiệnđủ biên chế theo quy định.
    3. Quy định hiện hành về cơ sở vật chất trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Đề xuất: Cần bổ sung các yêu cầu về cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục phù hợp với chương trình mới trong Điều lệ nhà trường và Quy chế công nhận trườngđạt chuẩn quốc gia các cấp học.
    4. Quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Quy định cụ thể, phân định rõ vai trò, trách nhiệm của nhà trường, gia đình và xã hội và đưa vào Luật Giáo dục để tăng cường nguồn lực cho các nhà trường mới có thể thực hiện được các yêu cầu của chương trình mới.
    5. Đối với trường tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2buổi/ngàycần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 - 2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022 - 2023 dạy học 2 buổi/ngày chotất cả các lớp tiểu học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Hiện nay nhiều địa phương chưa đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày, để thực hiện chương trình mới thì chủ trương trên là hợp lý. Chính phủ cần ban hành những chính sách quy định cụ thể các cấp, ngành, đoàn thể tham gia xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị, sắp xếp bố trí đội ngũ giáo viên, nhân viên đủđápứng được yêu cầu giáo dục của chương trình mới.
    6.Ở lớp 11 và lớp 12, việc đề xuất các trường xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc tự chọn (để học sinh tự chọn 3 môn từ các tổ hợp này) nhằm đáp ứng nhu cầu của người học đồng thời phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Quy định thì hợp lý nhưng việc thực hiện thì rất khó khăn vì có thể nguyện vọng của học sinh thay đổi sau từng năm nên các trường rất khó đáp ứng.
    Đề xuất: Đưa ra quy định từ đầu năm học lớp 11, dựa trên kết quả khảo sát nguyện vọng của học sinh và nhu cầu thực tế của xã hội, của các trường chuyên nghiệp để các trường THPT định hướng học sinh lựa chọnnhững tổ hợp nào.
    7. Những môn học, hoạt động giáo dục nào trong dự thảo CT tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác hiện nay?
    - Cấp Tiểu học:
    + Môn học bắt buộc có phân hóa;
    + Môn học tự chọn “Tiếng dân tộc thiểu số”;
    + Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    - Cấp THCS và THPT:
    + Hoạt động trải nghiệp sáng tạo;
    + Giáo dục địa phương;
    + Định hướng nghề nghiệp;
    + Giáo dục nghệ thuật.
    8. Để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo CT tổng thể có cần cải thiện cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác không? Nếu cần thì nên thực hiện các biện pháp nào?
    Đề xuất:
    - Nhà nước cần đầu tưthêm cơ vật chất đápứng các yêu cầu đổi mới của các nhàtrường (được quy định trong Điều lệ nhà trường, Quy chế trườngđạt chuẩn theo chương trình mới). Từng nhà trường căn cứ vàođiều kiện thực tế và nhu cầu cần có để xây dựnglộ trình xây dựng, bổ sung cơ sở vật chấtđápứng được yêu cầu thực hiện chương trình mới. Ví như: Xây dựng nhà Hoạt động giáo dụcnghệ thuật; nhà tập đa chức năng cho bộ môn Giáo dục thể chất…
    III.MỘT SỐ ĐỀ XUẤT THÊM
    1. Lộ trình thực hiện CTGDPT mới:
    + Năm học 2018-2019: Chỉ thực hiện cho lớp 1;
    + Năm học 2019-2020: Thực hiện cho lớp 1, 2,6;
    + Năm học 2020-2021: Thực hiện cho lớp 1, 2, 3, 6, 7, 10;
    + Năm học 2021-2022: Thực hiện cho lớp 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 10, 11;
    + Năm học 2022-2023: Thực hiện cho tất cả các lớp.
    2. Chế độ, chính sách:
    - Cần xây dựng chế độ mới đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên khi thực hiện chương trình mới như: Quy định tỉ lệ giáo viên/lớp; tiết dạy (và kiên nhiệm) cho mỗi giáo viên; Tiền lương, phụ cấp;…
    - Xây dựng lộ trình bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên ngay từ bây giờ đặc biệt là giáo viên dạy các môn/hoạt động giáo dục đặc thù/dạy học tích hợp…để thực hiện lộ trình đổi mới trên.

    - Tăng cường công tác dự báo ngành nghề trong tương lai để có dự kiến phân luồng học sinh và định hướng nhóm môn học tự chọn bắt buộc./.

Ủng hộ bài viết này