Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Thực hiện Công văn Số 1677/BGD&ĐT-GDTrH ngày 25/4/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc góp ý dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể,
    Sở GD&ĐT Hòa Bình đã ban hành Công văn số 769/SGD&ĐT-TrH ngày 28/4/2017 xin ý kiến đóng góp của các phòng GD&ĐT, các trường trung học, các cán bộ quản lý và giáo viên trong toàn tỉnh.
    Sở GD&ĐT Hòa Bình tổng hợp các ý kiến đóng góp, cụ thể như sau:

    I. VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG DỰ THẢO CT TỔNG THỂ
    1. Những vấn đề chung
    1.1. Dự thảo CT tổng thể đã thể hiện rõ việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại Nghị quyết 29/TW của Đảng, Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội một cách cụ thể thể hiện ở chỗ:
    - Đảm bảo kế thừa và phát triển những ưu điểm của Chương trình GDPT đã có của VN, có tiếp thu kinh nghiệm từ việc xây dựng chưng trình giáo dục từ những Quốc gia phát triển, những nước có nền giáo dục tiên tiến.
    - Chương trình được xây dựng theo hướng mở, thống nhất nội dung giáo dục cốt lõi, môn học bắt buộc, giao quyền chủ động cho địa phương nhà trường, tạo cơ hội cho người học lựa chọn và phát huy tối đa khả năng của mỗi cá nhân.
    1.2. Dự thảo CT tổng thể đã thể hiện tiếp cận xu hướng phát triển CT GDPT của các nước tiên tiến: Phát triển CT theo hướng tiếp cận năng lực là xu thế chung được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng; nhiều quốc gia đã đưa ra khung năng lực, trong đócoi trọng các năng lực chung cần thiết cho việc tham gia cuộc sống lao động, sinh hoạt hàng ngày và cho việc học tập suốt đời; Thống nhất giữa dạy học tích hợp với dạy học phân hoá theo hướng tích hợp cao ở lớp/cấp học dưới, phân hoá sâu ở lớp/cấp học trên.
    1.3. Dự thảo CT tổng thể đã kế thừa các CT GDPT đã có của Việt Nam: Về mục tiêu GDPT: CTGD mới tiếp tục mục tiêu giáo dục phát triển con người toàn diện “đức, trí, thể, mỹ”; hài hòa về thể chất và tinh thần; chú trọng các yêu cầu học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội…; Về nội dung giáo dục: CT GDPT mới tiếp tục tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hoá, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại; bảo đảm yêu cầu cơ bản, hiện đại,phù hợp với đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi của HS các cấp học.
    1.4. Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể là: Yêu đất nước, yêu con người, chăm học, chăm làm, trung thực, trách nhiệmlà phù hợp.
    1.5. Các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể là năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là phù hợp.
    1.6. Các năng lực chuyên môn cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thểnăng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất là phù hợp.
    1.7. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể là: Yêu con người, Chăm học, Chăm học, Trung thực là phù hợp.
    1.8. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể là phù hợp. Đặc biệt đối với chương trình bậc THPT có sự phân hóa và định hướng rất rõ, giúp học sinh có khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc bước vào cuộc sống lao động; đồng thời có khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.
    2. Kế hoạch giáo dục
    2.1. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Môn học bắt buộc có phân hóa quy định một số chủ đề hoặc học phần học sinh được tự lựa chọn tùy theo nguyện vọng, cho nên khi các trường tổ chức sẽ gây ra khó khăn: Nếu theo nguyện vọng của học sinh thì nhà trường chưa đáp ứng được cơ sở vật chất, giáo viên…như vậy sẽ xảy ra tình trạng ép học sinh lựa chọn chủ đề là thế mạnh của nhà trường. Đặc biệt ở bậc Tiểu học, các em học sinh chưa biết lựa chọn các môn học hay chủ đề phù hợp với bản thân.
    + Đối với bậc Tiểu học: Các môn học bắt buộc: nên có định hướng là phân hóa đối tượng để đưa vào các câu lạc bộ năng khiếu môn học đồng thời phát hiện các em học sinh có triển vọng làm nền tảng cho cấp học tiếp theo.
    2.2. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của CT GDPT tương đương với 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    - Đối với bậc Tiểu học: Theo chương trình hiện hành với cấp tiểu học thực hiện kế hoạch dạy học 35 tuần/năm thì chương trình mới 37 tuần/năm, việc tăng 2 tuần làm ảnh hưởng đến khối lượng công việc của giáo viên và thời gian giáo viên tự bồi dưỡng trong hè, thời gian học sinh học nhiều hơn nên ảnh hưởng đến việc vui chơi, nghỉ hè của học sinh.
    - Đối với bậc Trung học: Đã hợp lý.
    2.3. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học nhiều hay ít? Nếu nhiều (ít) thì nên giảm (tăng) như thế nào?
    - Đối với bậc Tiểu học:
    + Việc sắp xếp lại các môn học chưa hợp lý, dàn trải, chưa giảm tải chương trình. Số lượng môn học không giảm mà những môn như giáo dục lối sống, cuộc sống quanh ta, thế giới công nghệ, hoạt động trải nghiệm sáng tạo... khối lượng thời gian chiếm tới hơn 1/3 thời gian. Trong khi yêu cầu của bậc tiểu học là học sinh chỉ cần nắm được kiến thức sơ đẳng nhất…
    + Cấp tiểu học có nhiều môn, nội dung bắt buộc, chưa kể các môn bắt buộc có phân hóa và môn tự chọn như: tiếng Việt, Toán, ngoại ngữ 1, giáo dục lối sống, cuộc sống quanh ta, tìm hiểu xã hội, tìm hiểu tự nhiên, tìm hiểu công nghệ. Ở cấp học này tuổi các cháu còn quá nhỏ, nên áp dụng phương châm “chơi mà học, học mà chơi”. Chỉ học một số môn bắt buộc như tiếng Việt, Toán, ngoại ngữ 1, khoa học thưởng thức (những kiến thức cơ bản phù hợp với lứa tuổi về tự nhiên, xã hội, cuộc sống quanh em), giáo dục đạo đức (những vấn đề cơ bản, thực tế cần thiết phải phù hợp với lứa tuổi), thể dục, âm nhạc. Ngoài ra có thể có môn tự chọn như làm quen với vi tính, vẽ, tiếng dân tộc. Trong đó chú trọng thực hành, học qua việc làm cụ thể, qua cuộc sống thực tế quanh ta.
    + Trong bộ môn giáo dục khoa học xã hội (lịch sử và địa lý): Nên đưa việc tìm hiểu khu vực vào hoạt động trải nghiệm sáng tạo sẽ sát với thực tế ở mỗi địa phương.
    + Cần quy định phân chia hợp lý khi thực hiện các hoạt động về hoạt động trải nghiệm sáng tạo, chuyên đề học tập và nội dung giáo dục của địa phương về bản chất có phần tương đối giống nhau khi tổ chức ở nhà trường.
    + Chương trình cho phép học sinh tự lựa chọn môn học song thực tế môn học tự chọn chỉ có 1, có nghĩa là chỉ có 1 sự lựa chọn.
    + Số lượng môn nhiều so với học sinh tiểu học
    + Nên hiểu thế nào về cụm từ: các môn học bắt buộc có phân hóa ở trong các môn học: Thế giới công nghệ, Tìm hiểu tin học, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
    - Đối với bậc Trung học: Đã hợp lý.
    2.4. Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    - Đối với bậc Tiểu học:
    Một số môn học và hoạt động giáo dục tên còn dài và khó nhớ. Nên thay đổi bằng tên khác ngắn gọn, dễ nhớ hơn với học sinh.
    Hoạt động trải nghiệm sáng tạo chưa tách rõ nội dung nào thuộc về hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nội dung nào thuộc về phần thực hành của các môn học riêng biệt. Vì vậy khó hình dung ra nhiệm vụ của giáo viên dạy hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    Các môn như Giáo dục lối sống, Cuộc sống quanh ta, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo chiếm 1/3 khối lượng giảng dạy. Tuy nhiên, điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên hiện nay lại chưa đáp ứng vì còn rất mơ hồ về môn học mới.
    Cần có chương trình chuẩn kiến thức, kỹ năng với môn học hoạt động sáng tạo để có sự đồng nhất về chất lượng giáo dục. Về nội dung của môn học này có thể bổ sung kiến thức cho học sinh về khả năng sinh tồn và sức khoẻ thường ngày để các em nắm được kiến thức một cách vững vàng. Hơn nữa các em đang phải đối mặt với thách thức của biến đổi khí hậu và những thảm hoạ về môi trường.
    Cần làm rõ hơn các môn học Cuộc sống quanh ta và Thế giới công nghệ bao gồm các nội dung kiến thức gì? nó thay thế môn học nào trước đây để giáo viên dễ hình dung.
    - Đối với bậc Trung học: Đã hợp lý.
    2.5. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    - Đối với bậc Tiểu học: Thời lượng của mỗi tiết học của lớp 1, 2 và lớp 3,4,5 không đồng đều có thể ảnh hưởng đến sinh hoạt chung của toàn trường và khó khăn trong việc phân công giáo viên lên lớp; Nên thống nhất thời gian mỗi tiết học ở tiểu học là từ 35 đến 40 phút.
    - Đối với cả bậc Tiểu học và Trung học: Thời lượng môn học Tiếng dân tộc thiểu số, Nội dung giáo dục của địa phương trong một năm học là khá nhiều, tuy nhiên chưa rõ nội dung chương trình, tài liệu do Bộ GD&ĐT ban hành hay địa phương tự biên soạn? Lựa chọn, bố trí giáo viên giảng dạy như thế nào?
    2.6. Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy học nội dung giáo dục của địa phương” là phù hợp.
    2.7. Theo Thầy (Cô), việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo CT tổng thể) phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường có ưu điểm gì, hạn chế gì?
    - Ưu điểm: Học sinh có thể lựa chọn dựa trên nguyện vọng và năng lực của bản thân. Từ đó có thể phân luồng học sinh và bước đầu giúp định hướng nghề nghiệp cho các em học sinh ngay từ khi còn học phổ thông.
    - Nhược điểm:
    + Nếu theo nguyện vọng của học sinh thì nhà trường chưa đáp ứng được cơ sở vật chất, giáo viên,… Có thể dẫn đến thừa hoặc thiếu cơ sở vật chất, giáo viên cục bộ và không ổn định theo từng năm học.
    + Nếu định hướng các em học sinh lựa chọn môn học và hoạt động giáo dục phù hợp với điều kiện tổ chức của nhà trường sẽ xảy ra tình trạng “ép” học sinh lựa môn học, chủ đề là thế mạnh của nhà trường, hoặc các môn học, chủ đề mà nhà trường nhiều giáo viên, dễ tổ chức dạy học, ...

    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Dự thảo CT tổng thể nêu: “Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GDĐT được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    - Đối với bậc Tiểu học:
    + Việc xác định phẩm chất của học sinh vẫn chưa có một kết quả cuối cùng mà còn rất lan man đi vào các chi tiết nhỏ.
    + Về phẩm chất năng lực: mới chỉ liệt kê được những năng lực gì và biểu hiện của nó ra sao. Trong khi đó, biểu hiện chỉ là cơ sở để đánh giá phẩm chất năng lực chứ chưa phải là điều cần đạt về năng lực.
    + Các định hướng về nội dung các môn học chưa nêu lên cách thực hiện để đạt được các phẩm chất, năng lực đó. Cụ thể mỗi môn học lại xây dựng các phẩm chất, năng lực khác nhau.
    - Đối với bậc Trung học phổ thông:
    + Chưa thật hợp lý.
    + Vẫn tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT nhưng giao cho các Sở GD&ĐT tổ chức thực hiện, phú hợp với yêu cầu và thực tế của từng địa phương, vùng miền.
    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CT GDPT
    1. Quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    - Số lượng HS qui định như hiện tại (TH là 35HS/lớp; Trung học là 45 HS/lớp) là không phù hợp, khó cho việc thiết kế và tổ chức hoạt động cho HS theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và phát triển năng lực của học sinh.
    - Nên thay đổi: Bậc Tiểu học mỗi lớp không quá 25 HS, bậc Trung học mỗi lớp không quá 35 HS.
    2. Quy định hiện hành về số lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    - Đối với trường TH dạy học 2 buổi/ngày cần ít nhất 1,6 GV mới đảm bảo, trường dạy học 1 buổi/ngày cần ít nhất 1,4 GV/lớp.
    - Đối với bậc Trung học: Cần tăng tỷ lệ giáo viên trên lớp để có thể đảm bảo việc theo dõi thường xuyên, chính xác quá trình tiến bộ của từng học sinh. Từ đó có sự định hướng, hỗ trợ kịp thời mỗi học sinh trong suốt quá trình học tập.
    3. Quy định hiện hành về cơ sở vật chất trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới: Cần tăng cường cơ sở vật chất cho các đơn vị trường học, đặc biệt là các phòng học, phòng bộ môn phù hợp với nội dung chương trình giáo dục, nhất là các môn đặc thù như Tin học, Ngoại ngữ, Tiếng dân tộc thiểu số, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục. Thiết bị cho mỗi phòng cũng cần được đầu tư thêm để đáp ứng với nhu cầu môn học. Đặc biệt, quy chuẩn về việc xây mới các phòng học cũng cần chú ý về diện tích để đảm bảo không gian đủ cho các hoạt động của học sinh.
    4. Quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội là phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới.
    5. Đối với trường tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày cần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 - 2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022 - 2023 dạy học 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp tiểu học” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    - Chưa hợp lí vì theo số lượng tiết trong dự thảo 1147 đối với lớp 1,2,3 và 1184 đối với lớp 4,5. Trường học 1 buổi/ngày phải sắp xếp 27 tiết tuần. Như vậy, vẫn phải học ít nhất 6 buổi/tuần.
    6. Ở lớp 11 và lớp 12, việc đề xuất các trường xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc tự chọn (để học sinh tự chọn 3 môn từ các tổ hợp này) nhằm đáp ứng nhu cầu của người học đồng thời phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường là hợp lý.
    7. Những môn học, hoạt động giáo dục nào trong dự thảo CT tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác hiện nay?
    - Đối với bậc Tiểu học: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Thế giới công nghệ
    - Đối với bậc Trung học: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Giáo dục địa phương, Tiếng dân tộc thiểu số.
    8. Để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo CT tổng thể có cần cải thiện cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác không? Nếu cần thì nên thực hiện các biện pháp nào?

    Cần tăng cường cơ sở vật chất cho các đơn vị trường học, đặc biệt là các phòng hội thảo, phòng học, phòng bộ môn phù hợp với nội dung chương trình giáo dục, nhất là các môn đặc thù như Tin học, Ngoại ngữ, Tiếng dân tộc thiểu số, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục. Thiết bị dạy học cũng cần được đầu tư thêm để đáp ứng với nhu cầu môn học./.

Ủng hộ bài viết này