Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Ngay khi nhận được Công văn của Bộ GDĐT về việc xin ý kiến góp ý cho Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Ngày 14/4/2017, Sở GDĐT Hải Dương đã có Công văn số 391/SGDĐT-GDTrH yêu cầu tất cả các cơ sở giáo dục trong toàn tỉnh tham gia ý kiến góp ý cho “Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể”.
    Các cơ sở giáo dục đã tổ chức nhiều hình thức để cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên tham gia ý kiến góp ý cho Dự thảo và gửi văn bản góp ý về Sở GDĐT theo hướng dẫn.
    Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Dương tổng hợp ý kiến tham gia góp ý của các cơ sở giáo dục trong tỉnh như sau:
    I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
    1.1. Dự thảo CT tổng thể đã thể hiện việc quán triệt đầy đủ các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ gắn với nhu cầu phát triển của đất nước và những tiến bộ của thời đại về khoa học- kĩ thuật và xã hội, phù hợp với đặc điểm của con người, văn hóa Việt Nam, các giá trị truyền thống của dân tộc.
    1.2. Dự thảo CT tổng thể đã tiếp cận xu hướng phát triển CT GDPT của các nước tiên tiến
    Về cơ bản dự thảo đã tiếp cận được với xu thế phát triển của khu vực và thế giới trong thời kỳ hội nhập, đặc biệt là coi trọng kỹ năng thực hành, kỹ năng mềm của học sinh là cần thiết sau khi kết thúc THPT.
    Tiếp cận được với những thay đổi của quá trình phát triển khoa học và công nghệ hiện đại.
    1.3. Dự thảo CT tổng thể có kế thừa các CT GDPT đã có của Việt Nam Tuy nhiên khi nghiên cứu kỹ thì các nội dung kiến thức gần như không thay đổi nhiều, chủ yếu là thay đổi một số tên môn học, đồng thời thêm một số môn mới.
    1.4. Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể về cơ bản đều là những năng lực cần thiết mà mỗi học sinh cần hướng tới và hình thành, thực chất chính là kế thừa những phẩm chất truyền thống của con người Việt Nam từ xưa đến nay.
    1.5. Các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã khá phù hợp. Tuy nhiên, đối với năng lực chung thì các cấp học, bậc học đều phải giống nhau, chỉ khác nhau về mức độ đảm bảo tính đồng quy khi thực hiện chương trình.
    1.6. Các năng lực chuyên môn cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể nên chăng dừng lại ở nội dung tiếp cận như dự thảo Chương trình GD tổng thể hiện nay là đủ. Tuy nhiên cần đổi mới mục tiêu, chương trình đối với các trường THCN, CĐ, ĐH tập trung vào kỹ năng thực hành và khả năng làm việc sau khi tốt nghiệp các trường nghề, CĐ, ĐH nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động.
    1.7. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể
    Thực chất những biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất của học sinh ở từng cấp học trong Dự thảo đã có trong biểu hiện của năng lực.
    Việc phân định nội dung giữa một số phẩm chất trong Dự thảo còn chồng chéo, chưa thật rõ ràng. Ví dụ như phẩm chất "yêu đất nước" với "yêu con người", vì "yêu đất nước" thì cần phải yêu cả các yếu tố tự nhiên và xã hội, trong xã hội thì có "con người". Hay là phẩm chất "chăm học" và "chăm làm" nếu học sinh đã "chăm làm" thì có nghĩa là đã "chăm học"
    Nên tổng hợp ngắn gọn các phẩm chất. 5 Điều Bác Hồ dạy học sinh đến nay vẫn là những phẩm chất cần thiết, đầy đủ nhất.
    1.8. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể
    Dự thảo nên xác lập, làm rõ năng lực đọc, nói đúng tiếng Việt của học sinh ở từng cấp học trong chương trình tổng thể bởi trong dự thảo chưa nhấn mạnh, làm rõ việc nói, đọc đúng tiếng Việt của học sinh trong năng lực sử dụng tiếng Việt. Việc đọc đúng, nói đúng có thể sẽ bị bỏ qua trong biên soạn chương trình chi tiết môn học tiếng Việt của các cấp học và lớp học khi cụ thể hóa. Đọc và nói đúng tiếng Việt là kỹ năng căn bản của môn tiếng Việt nhất là trong tình hình đổi mới giáo dục theo Nghị quyết 29 của TƯ hiện nay. Ngành giáo dục phải dạy học sinh nói đúng, viết đúng tiếng mẹ đẻ, giáo dục học sinh yêu tiếng nói của dân tộc, giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt.
    Đối với Giáo dục Tin học thì không nên quá “tham vọng” mà chỉ nên đặt mục tiêu học sinh biết sử dụng máy tính phục vụ mục đích học tập. Việc phát triển tư duy hệ thống, thiết kế, điều khiển và tự động hóa nên để ở bậc sau THPT. Bởi vì hiện nay nhiều trường nghề sau khi sinh viên ra trường còn chưa chắc đã đạt được mục tiêu mà Chương trình tổng thể đề ra.
    Đối với Giáo dục địa phương nên tích hợp trong 03 môn học: Lịch sử, Địa lí, Ngữ văn là đủ. Bên cạnh đó có thể học thêm chương trình địa phương qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    Một số môn học dễ bị hiểu sai và khi thực hiện cũng không phải dễ dàng đạt được hiệu quả. Ví dụ, môn Hoạt động trải nghiệm sáng tạo hoặc chuyên đề học tập,... Giáo viên nào trong số giáo viên hiện nay đảm trách môn học và chuyên đề này? Nếu nội dung thuộc chuyên môn của môn nào, giáo viên môn ấy dạy thì phân công chuyên môn ra sao,…
    2. Kế hoạch giáo dục
    2.1. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc
    Ở các lớp 11, 12, ngoài một số môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc (Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng và an ninh, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo), học sinh chỉ cần chọn 3/11 môn còn lại phù hợp với định hướng nghề nghiệp. Nếu đã sử dụng thuật ngữ “tự chọn” thì bỏ cụm từ “bắt buộc”. Chỉ nên yêu cầu học sinh chọn 3/11 môn và 1 chuyên đề.
    Đối với một số môn học và hoạt động giáo dục theo Dự thảo có tính tích hợp nhưng nhà trường và giáo viên phổ thông hoàn toàn bị động, giáo viên chưa được trang bị kiến thức liên môn. Cho nên khi xây dựng chương trình cụ thể cho từng môn học, cần phải có quy định hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn về môn, phần, số tiết, cách thức tiến hành…
    Nên chăng không cần thêm môn học và hoạt động mới mà chỉ cần điều chỉnh chương trình theo hướng tăng thời lượng thực hành, gắn lý thuyết với thực tiễn, bổ sung những yêu cầu về định hướng phát triển năng lực cho học sinh; tập trung thực hiện tốt việc đổi mới cách thức tổ chức hoạt dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục theo hướng tăng cường hoạt động trải nghiệm sáng tạo (giáo dục ngoài giờ lên lớp, ngoại khóa, sinh hoạt câu lạc bộ,…), khuyến khích các hoạt động phát triển năng khiếu cho học sinh ở những nơi có điều kiện.
    2.2. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của CT GDPT tương đương với 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương”
    Thời lượng tuần học trong một năm chưa hợp lí.
    Góp ý điều chỉnh: Đối với giáo dục địa phương chỉ nên lồng ghép và tích hợp trong môn Lịch sử, Địa lí, Ngữ văn như hiện nay là đủ. Do vậy 2 tuần này nên để tăng cường cho nội dung học tập, trải nghiệm sáng tạo.
    2.3. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học nhiều hay ít? Nếu nhiều (ít) thì nên giảm (tăng) như thế nào?
    Tổng số môn học dường như quá “đồ sộ”, số tiết học cũng quá lớn. Bậc Tiểu học, số lượng môn học không giảm mà những môn như: Giáo dục lối sống, cuộc sống quanh ta, thế giới công nghệ, hoạt động trải nghiệm sáng tạo,…chiếm tới hơn 1/3 thời lượng học tập. Như vậy chưa phù hợp với yêu cầu và mục tiêu giáo dục bận Tiểu học.
    Học sinh lớp 10 có tới 15 môn học bắt buộc và tự chọn bắt buộc, chưa tính 02 môn tự chọn. Tổng số tiết trong một năm học từ 985 tiết lên đến 1184 tiết.
    Đối với giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng an ninh, khi xây dựng chương trình và triển khai nên cho học riêng thành một buổi. Tránh tình trạng học xen kẽ như phần lớn các trường đang thực hiện như hiện nay. Để giờ thể dục đạt hiệu quả thì việc bố trí thay đồng phục, khởi động, học tập và nghỉ ngơi phải hài hòa. Nếu học xen kẽ thì giờ kế tiếp giờ thể dục học sinh mệt mỏi, dẫn đến không hiệu quả khi học tập các môn tiếp theo.
    Môn ngoại ngữ 2: Đối với bậc THPT trở xuống thực sự khó thực hiện hiệu quả, bởi hiện tại các trường đang thực hiện dạy 1 ngoại ngữ mà chất lượng còn rất hạn chế. Để dạy Ngoại ngữ 2 đòi hỏi đội ngũ giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất, nguyện vọng và trình độ học sinh. Có chăng chỉ khuyến khích những nơi có điều kiện.
    2.4. Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học Tên một số môn học chưa hợp lí. Ví dụ: Thế giới công nghệ, Môn Giáo dục kinh tế và pháp luật nên giữ nguyên như hiện nay là Giáo dục công dân vì môn học này hiện đã bao hàm triết học, kinh tế, chính trị và giáo dục pháp luật; Môn Thiết kế và công nghệ nên giữ nguyên là Công nghệ. Bản chất của công nghệ bao gồm có cả thiết kế. Quan trọng là khi xây dựng chương trình SGK cho môn học thì người viết sách chuyển tải những nội dung gì; Môn Khoa học máy tính và tin học ứng dụng nên gọi chung là Tin học. Bởi môn Tin học có thể chia thành nhiều phân môn nhỏ như: Khoa học máy tính (tìm hiểu về máy tính), tin học ứng dụng (sử dụng tin học trong học tập, đời sống), lập trình (viết phần mềm)….
    2.5. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học vẫn có trường hợp chưa thật hợp lý
    Môn Toán của lớp 5 Tiểu học nên giữ số tiết như đối với lớp 3,4; Số tiết học môn Ngữ văn lớp 12 nên giữ như trước là 105 tiết;
    2.6. Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy học nội dung giáo dục của địa phương”.
    Không cần thiết phải thực hiện như vậy. Nên lồng giáo dục địa phương trong một số môn học như Lịch sử, Địa lý, Ngữ văn,… và hoạt động trải nghiệm sáng tạo là đủ.
    2.7. Về việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo CT tổng thể) phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường
    Ưu điểm có tính cá biệt hóa nhằm phát huy năng lực cho học sinh. Các môn học ở bậc THPT nên chỉ dừng ở mức độ tiếp cận. Giáo dục nghề nghiệp nên dành cho các cơ sở đạo tạo nghề, các trường cao đẳng, đại học. Cốt lõi của vấn đề là cần phải thay đổi hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tập trung vào đào tạo nhân lực đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động của các cơ quan, doanh nghiệp. Hiện nay nhiều môn học trong các trường cao đẳng, đại học còn hàn lâm, chưa đáp ứng đối với yêu cầu của người sử dụng lao động.
    Nhược điểm: Quy định này vô cùng khó khăn cho việc phân công chuyên môn, tổ chức giảng dạy (ví dụ có môn học sinh chọn học tự chọn nhiều mà trường không có giáo viên hoặc không đủ điều kiện cơ sở vật chất; môn học sinh không chọn học tự chọn thì phân công giáo viên làm việc gì,…). Đặc biệt là không chỉ không phù hợp với tình hình đội ngũ hiện có mà còn không đáp ứng được lộ trình tinh giản đội ngũ (giảm biên chế) theo “Đề án tinh giản biên chế giai đoạn 2016 – 2021”“Đề án vị trí việc làm giai đoạn 2016 – 2021” và đang triển khai quyết liệt hiện nay.
    Để thực hiện Chương trình như dự thảo cần có sự phối hợp, thống nhất giữa các bộ ngành liên quan, ví dụ: Liên bộ Giáo dục- Nội vụ,…sửa đổi các Nghị định, thông tư, quyết định liên quan đến công tác tổ chức, biên chế, đánh giá xếp loại công chức, viên chức, quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên, chuẩn hiệu trưởng,…thậm chí sửa đổi một số Luật liên quan, đặc biệt là Luật Giáo dục,…
    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Dự thảo CT tổng thể nêu: “Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GDĐT được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông”
    Dự thảo thể hiện điểm mới trong khâu kiểm tra, đánh giá. Nếu trước đây chủ yếu đánh giá học sinh thông qua các bài kiểm tra (kiểm tra miệng, 15 phút, 1 tiết, học kì) thì nay việc kiểm tra đánh giá có thể thông qua các bài viết, dự án học tập, sản phẩm học tập của học sinh… Đặc biệt là chú trọng đánh giá trên lớp, đánh giá quá trình, vì sự tiến bộ của học sinh, không so sánh học sinh này với học sinh khác mà chỉ so sánh sự cố gắng, sự tiến bộ của chính học sinh đó trong quá trình học tập, rèn luyện.
    Tuy nhiên, hình thức đánh giá kết quả giáo dục nên linh hoạt. Ví dụ: Tiểu học và Trung học cơ sở (Từ lớp 1 đến lớp 9) nên coi trọng hình thức tự luận nhằm mục đích rèn luyện chữ viết, phát triển khả năng diễn đạt, sáng tạo,...Từ lớp 10 trở lên có thể kết hợp cả 2 hình thức: trắc nghiệm và tự luận. Riêng môn Ngữ văn thì vẫn nên thi theo hình thức tự luận.
    Bên cạnh thực hiện kiểm tra đánh giá theo hình thức tự luận, trắc nghiệm thì các dạng khác như bài tập nhóm, bài viết luận, tiểu luận nghiên cứu, thu hoạch cũng nên triển khai.
    Riêng bậc THPT sử dụng 1 kết quả với 2 mục đích như hiện nay là phù hợp. Hiện nay vẫn đang tồn tại một nghịch lý là: phần lớn các trường tư thục, dân lập có điểm tuyển sinh (đầu vào) thấp hơn các trường công lập, nhưng chất lượng sản phẩm đầu ra lại cao hơn nhiều các trường công lập (ngoại trừ 1 số trường đặc biệt). Ở một số quốc gia tiên tiến trên thế giới, học sinh có thể tự do chọn trường, ngành học. Tuy nhiên chuẩn đầu ra được đánh giá chặt chẽ, nếu học sinh không hoàn thành chương trình học thì sẽ không được cấp bằng. Như vậy học sinh phải lựa sức để có lựa chọn phù hợp. Còn ở Việt Nam hiện nay tình trạng học sinh khi ôn luyện thi tuyển đầu vào thì tập trung, nghiêm túc, chặt chẽ nhưng đánh giá đầu ra chưa thật tương xứng, sinh viên ra trường chưa đáp ứng ngay được công việc, thậm chí doanh nghiệp phải cho đào tạo lại,…
    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CT GDPT
    1. Quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường nhất thiết phải thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới
    Để thực hiện giảng dạy có hiệu quả thì quy mô số lớp học trên một trường; số học sinh trong một lớp phải giảm so với quy định hiện tại. Bởi nếu số lượng học sinh quá đông thì việc quản lí, tổ chức các hoạt động dạy và học, nhất là nhằm phát triển năng lực, phẩm chất, tổ chức hoạt động,…sẽ vô cùng khó khăn.
    Vì vậy Điều lệ trường phổ thông hiện nay cũng phải điều chỉnh, bổ sung, thay đổi để phù hợp.
    2.Quy định hiện hành về số lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông cũng cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới
    Đối với trường THPT khi thực hiện theo Chương trình của Dự thảo sẽ phải tăng số lượng giáo viên của các môn học chưa từng xuất hiện từ trước tới nay ở trường THPT. Vì vậy cần thay đổi Thông tư quy định về đội ngũ, cơ cấu và chế độ làm việc của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên,…
    Ví dụ: Giáo dục Mỹ thuật, Âm nhạc thì hiện nay ngay cả các trường THCS cũng chưa đủ giáo viên. Những môn học này đòi hỏi giáo viên phải có năng khiếu, không thể phân công giáo viên khác giảng dạy được.
    Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên cần phải được đào tạo lại, đào tạo thêm văn bằng 2, 3 hoặc bồi dưỡng,… bài bản để đáp ứng yêu cầu mới.
    Việc đào tạo lại giáo viên (với số lượng lớn, gần như tất cả giáo viên) sẽ thực hiện khi nào, theo hình thức nào,… để không ảnh hưởng đến hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục khác trong nhà các trường?
    3. Quy định hiện hành về cơ sở vật chất trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông rất cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới
    Đã là đổi mới để phù hợp với quốc khu vực và quốc tế thì cơ sở vật chất cũng phải thay đổi. Đặc biệt là các cơ sở giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, kinh tế còn khó khăn, cơ sở vật chất tối thiểu như phòng học, hệ thống bàn ghế, điện sáng, quạt mát, máy tính, sân chơi, bãi tập,…còn thiếu thốn. Các thiết bị dạy học tối thiểu không những chưa đủ mà chất lượng thiết bị chỉ sử dụng được không quá 3 năm,…
    Việc tăng cường cơ sở vật chất thông qua xã hội hóa không phải cơ sở giáo dục nào cũng thực hiện được. Nếu kêu gọi sự ủng hộ của các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ của người đứng đầu cơ sở giáo dục đó cũng như điều kiện kinh tế xã hội địa phương. Nếu kêu gọi sự đóng góp ủng hộ của phụ huynh thì xã hội lên án là lạm thu.
    4. Quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cũng cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới
    Thực chất mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội như hiện nay chưa tiếp cận được với yếu tố thị trường. Bản chất nền giáo dục của nước ta vẫn là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, vì vậy khi xác định sản phẩm của quá trình đào tạo là “hàng hóa” thì người khách hàng phải được lựa chọn nơi học tập, ngược lại đơn vị tổ chức quá trình học tập phải xác lập giá trị cần thiết cho mỗi sản phẩm. Tuy nhiên hiện nay, học sinh vẫn chưa được lựa chọn nơi học.
    Các chính sách nhân đạo đối với người học chỉ áp dụng đúng đối tượng. Các đối tượng còn lại phải thực hiện theo quy luật thị trường. Ngoài các hỗ trợ về học phí, cơ sở vật chất thì hiện nay các thiết bị, sách giáo khoa… đang được trợ giá sẽ làm tăng gánh nặng xã hội lên giáo dục.
    5. Đối với trường tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày cần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 - 2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022 - 2023 dạy học 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp tiểu học”
    Những trường ở vùng sâu, xa, khó khăn khó có thể thực hiện được. Nếu thực hiện được cần có sự điều chỉnh về tỉ lệ giáo viên/lớp; đầu tư kinh phí, các điều kiện khác như khuôn viên nhà trường, các công trình phụ trợ: sân chơi, bãi tập, vườn trường, nhà đa năng, bể/ao bơi,…
    Về kinh phí đầu tư, các nhà trường, thậm chí ngành Giáo dục và đào tạo hoàn toàn không chủ động được.
    6. Ở lớp 11 và lớp 12, việc đề xuất các trường xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc tự chọn (để học sinh tự chọn 3 môn từ các tổ hợp này) nhằm đáp ứng nhu cầu của người học đồng thời phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường chưa thật hợp lý
    Việc thực hiện các môn tự chọn trong nhà trường chắc chắn sẽ gây sự xáo trộn rất lớn, không giải quyết được. Bởi khi có quá nhiều học sinh đăng ký một môn tự chọn nào đó, số giáo viên để giảng dạy các môn tự chọn học sinh tham gia nhiều không đáp ứng được, trong khi đó các giáo viên có ít học sinh chọn học sẽ dư thừa, từ đó tạo áp lực cho người quản lí khi phân công lao động.
    Hiện nay, đội ngũ giáo viên (đặc biệt là THCS và THPT) chưa thể đáp ứng được yêu cầu dạy học tích hợp.
    Bậc Tiểu học: thời lượng dạy học các môn Toán, Tiếng Việt chưa cân đối. (Tiếng Việt lớp 1: 420 tiết - tương đương 12 tiết/tuần, gấp 4 lần môn Toán; Tiếng Việt lớp 4,5 chỉ có 245 tiết/tuần,…
    Cấp THCS và THPT đa số mới chỉ đủ điều kiện tối thiểu để học 1 buổi/ngày. Trong khi đó nếu số tiết là 20 - 30 tiết/tuần thì số giờ chiếm hết thời lượng của 1 tuần, không còn thời gian dành cho sinh hoạt trường, lớp, sinh hoạt chuyên môn của giáo viên. Đặc biệt lớp 8, 9, 10, chưa tính giờ chào cờ đầu tuần, sinh hoạt lớp cuối tuần đã là 30 tiết. Nếu không bố trí học được 2 buổi/ngày, mỗi buổi học sinh đã phải học hơn 5 tiết. Vì vậy, rất cần xem xét để giảm số giờ/tuần.
    Nếu các trường có đủ điều kiện học 2 buổi/ ngày thì số tiết dạy/tuần như dự thảo Chương trình là phù hợp.
    7. Những môn học, hoạt động giáo dục nào trong dự thảo CT tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của nhiều nhà trường hiện nay
    Các môn theo yêu cầu của chương trình mới rất khó thực hiện trong điều kiện cơ sở vật chất như hiện nay là: Giáo dục thể chất (ngoài nội dung như hiện nay còn phải thêm bồi dưỡng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, sức khỏe tinh thần,…), Khoa học máy tính, Thiết kế và công nghệ, Mỹ thuật, Âm nhạc,…
    Hoạt động khó khăn khi thực hiện: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, chuyên đề giáo dục, chương trình địa phương,….
    Nguyên nhân cơ bản là do không đảm bảo cơ sở vật chất, kinh phí tổ chức thực hiện; đội ngũ giáo viên đào tạo không đúng chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu mới; khuôn viên, các khối công trình,…
    8. Để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo CT tổng thể rất cần cải thiện cơ sở vật chất hiện nay của các nhà trường
    Ngoài yếu tố con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại của sự đổi mới chương trình, để thực hiện được thành công quá trình đổi mới thì cơ sở vật chất chí ít phải đủ, phải đồng bộ và hiện đại, đảm bảo chất lượng và phù hợp với nội dung giáo dục là vô cùng cần thiết.

    Biện pháp để tăng cường cơ sở vật chất ngoài ngân sách nhà nước cấp thì việc thực hiện xã hội hóa là cần thiết. Tuy nhiên để đạt hiệu quả thì các cơ sở giáo dục nên được tự chủ về tài chính có sự giám sát của cơ quan quản lí nhà nước. Các nguồn xã hội hóa được phép huy động, sử dụng khi được đồng thuận kể cả của cha mẹ học sinh. Các cơ sở giáo dục phải công khai minh bạch về đội ngũ, chất lượng, cơ sở vật chất, tài chính (theo quy chế dân chủ ở cơ sở)./.

Ủng hộ bài viết này