Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Thực hiện Công văn số 1496/BGDĐT-VP ngày 12/4/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc xin ý kiến đóng góp cho dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể; Công văn số 1677/BGDĐT-VP ngày 28 tháng 4 năm 2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc góp ý dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể; sau thời gian triển khai lấy ý kiến sâu rộng trong toàn ngành, Sở Giáo dục và Đào tạo Kiên Giang tổng hợp báo cáo một số nội dung như sau:
    I. Những vấn đề chung
    Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (CT tổng thể) được xây dựng theo định hướng tiếp cận năng lực (NL), phù hợp với xu hướng phát triển chương trình của các nước tiên tiến, nhằm thực hiện yêu cầu của Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội “tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”. Đây là điểm mới cơ bản, cốt lõi của dự thảo CT tổng thể. Cụ thể:
    1. Dự thảo CT tổng thể đã thể hiện rõ, sâu sắc việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ.
    2. Dự thảo CT tổng thể đã cơ bản tiếp cận xu hướng phát triển từ CT GDPT của các nước tiên tiến (Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Vương quốc Anh…) với mức độ khá; theo quan điểm tiếp thu có chọn lọc, phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của Việt Nam.
    3. Dự thảo CT tổng thể đã thể hiện rõ tính kế thừa và phát triển các CT GDPT đã có của Việt Nam; đáp ứng yêu cầu điều chỉnh, bổ sung nội dung mới, tiên tiến, đồng thời gạt bỏ những yếu tố lạc hậu, không còn phù hợp.
    4. Về yêu cầu hướng đến mục tiêu hình thành và phát triển cho học sinh các phẩm chất chủ yếu, dự thảo CT tổng thể đã thể hiện đầy đủ: (1) Yêu đất nước; (2) Yêu con người; (3) Chăm học; (4) Chăm làm; (5) Trung thực; (6) Trách nhiệm. Như thế là tương đối phù hợp và toàn diện. Các phẩm chất trên được cụ thể hóa thành nội dung biểu hiện: Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung; Có lối sống lành mạnh, nếp sống vǎn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái; Lao động chǎm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, nǎng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội; Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực.
    5. Về yêu cầu hướng đến mục tiêu hình thành và phát triển cho học sinh các năng lực chung và năng lực chuyên môn, dự thảo CT tổng thể đã thể hiện rõ: Nhóm năng lực chung, bao gồm: (1) Tự chủ và tự học, (2) Giao tiếp và hợp tác, (3) Giải quyết vấn đề và sáng tạo; Nhóm năng lực chuyên môn, bao gồm: (1) Ngôn ngữ, (2) Tính toán, (3) Tìm hiểu tự nhiên và xã hội, (4) Công nghệ, (5) Tin học, (6) Thẩm mỹ, (7) Thể chất. Ngoài ra, dự thảo CT tổng thể còn hướng đến yêu cầu hỗ trợ, tạo điều kiện cho học sinh phát huy các năng lực đặc biệt (năng khiếu). Như thế là tương đối cụ thể, đầy đủ, phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
    6. Về yêu cầu cần đạt đối với phầm chất, năng lực của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể là phù hợp; tuy nhiên, Bộ GDĐT cần lưu ý những yêu cầu cần đạt đối với phầm chất, năng lực của học sinh ở từng cấp học phải thể hiện nhất quán, cụ thể trong các Thông tư của Bộ GDĐT về đánh giá học sinh các cấp học.
    II. Về kế hoạch giáo dục
    1. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” là khá hợp lý.
    2. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của CT GDPT tương đương với 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương”; quy định như thế là hợp lý.
    3. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của cấp tiểu học, trung học cơ sở theo dự thảo là hợp lý; không nên tăng hoặc giảm. Tuy nhiên, đối với cấp THPT, thì tổng số môn học và tiết học quá nhiều, không đáp ứng nguyện vọng chung của người học là giảm tải kiến thức. Cụ thể, đối với lớp 10, học sinh có đến 15 môn học bắt buộc và môn học bắt buộc có phân hóa (chưa tính 02 môn tự chọn), với tổng số tiết học trong năm từ 985 đến 1.184 tiết. Đề nghị Bộ GDĐT nghiên cứu, cơ cấu lại số môn học ở cấp THPT.
    4. Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học theo dự thảo là hợp lý. Thống nhất với tên các môn học được sắp xếp trong hệ thống môn học của dự thảo CT tổng thể. Cụ thể:
    - Cấp Tiểu học:
    Môn học bắt buộc (08 môn): Tiếng Việt; Cuộc sống quanh ta (lớp 1, 2, 3); Toán; Tìm hiểu xã hội (lớp 4, 5); Giáo dục lối sống; Tìm hiểu tự nhiên (lớp 4, 5); Tìm hiểu công nghệ (lớp 4, 5); Ngoại ngữ 1 (lớp 3, 4, 5). Môn học bắt buộc có phân hóa (05 môn): Thế giới công nghệ (lớp 1, 2, 3); Tìm hiểu tin học (lớp 4, 5); Giáo dục thể chất; Nghệ thuật; Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Môn học tự chọn (01 môn): Tiếng dân tộc thiểu số.
    - Cấp THCS:
    Môn học bắt buộc (06 môn): Ngữ văn; Toán; Ngoại ngữ 1; Giáo dục công dân; Khoa học tự nhiên; Lịch sử và Địa lí. Môn học bắt buộc có phân hóa (05 môn): Tin học; Công nghệ và Hướng nghiệp; Giáo dục thể chất; Nghệ thuật; Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Môn học tự chọn (02 môn): Tiếng dân tộc thiểu số; Ngoại ngữ 2.
    - Cấp THPT:
    + (Lớp 10) Môn học bắt buộc (10 môn): Ngữ văn; Toán; Ngoại ngữ 1; Vật lý; Hóa học; Sinh học; Giáo dục kinh tế và pháp luật; Lịch sử; Giáo dục quốc phòng và an ninh; Địa lý. Môn học bắt buộc có phân hóa (05 môn): Tin học; Công nghệ và Hướng nghiệp; Giáo dục thể chất; Hoạt động nghệ thuật; Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Môn học tự chọn (02 môn): Tiếng dân tộc thiểu số; Ngoại ngữ 2.
    + (Lớp 11, 12) Môn học bắt buộc (04 môn): Ngữ văn; Toán; Ngoại ngữ 1; Giáo dục quốc phòng và an ninh. Môn học bắt buộc có phân hóa (02 môn): Giáo dục thể chất; Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Môn học tự chọn bắt buộc (chọn 03 môn và 01 chuyên đề học tập): 4 tiết/tuần (Lịch sử, Địa lý, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Khoa học máy tính, Tin học ứng dụng); 3 tiết/tuần (Thiết kế và Công nghệ, Mỹ thuật, Âm nhạc, Giáo dục kinh tế và pháp luật); 15 tiết (Chuyên đề học tập). Môn học tự chọn (02 môn): Tiếng dân tộc thiểu số; Ngoại ngữ 2.
    5. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học cơ bản là hợp lý. Tuy nhiên, Sở GDĐT Kiên Giang có một số ý kiến, đề xuất như sau:
    a) Đối với cấp Tiểu học:
    - Theo dự thảo CT tổng thể, đối vớilớp 1, quan điểm tăng số tiết môn Tiếng Việt, giảm số tiết môn Toán là phù hợp vì kiến thức môn Tiếng Việt khá nhiều. Thời lượng môn Tiếng Việt và Toán mỗi tiết học ở lớp 1 quá ngắn, đề nghị giữ thời lượng như cũ; nên giảm thời lượng các môn học không điểm số; đề nghị tiếp tục thực hiện chương trình công nghệ.
    - Môn “Thế giới công nghệ” nên được bắt đầu thực hiện từ lớp 2 thay vì lớp 1 (vì các em học sinh lớp 1 còn quá nhỏ để tiếp cận máy tính …).
    - Môn Toán lớp 5: tổng số 210 tiết/năm là quá nhiều, như thế sẽ ảnh hưởng tới các môn học khác.
    - Theo dự thảo CT tổng thể, mỗi tiết học cho lớp 1 và lớp 2 từ 30 phút đến 35 phút; cho lớp 3, lớp 4 và lớp 5 từ 35 phút đến 40 phút; giữa các tiết học có thời gian nghỉ; quy định như thế là hợp lý. Tuy nhiên, Bộ GDĐT cần quy định thời gian nghỉ giữa 2 tiết học tối đa là 5 phút.
    b) Đối với cấp Trung học cơ sở:
    * Môn Toán: Thống nhất với dự thảo; thời lượng tiết học 45 phút là phù hợp; số tiết học môn Toán trong 1 năm (140 tiết) là vừa sức học sinh. Môn Toán trong giai đoạn giáo dục cơ bản được xây dựng theo cấu trúc “đồng tâm xoáy ốc” mở rộng và nâng cao dần như dự thảo là rất phù hợp.
    * Ngữ văn: Dự thảo CT tổng thể có nhiều ưu điểm, đạt yêu cầu hiện đại về cấu trúc nội dung, cách thức tổ chức, phương pháp giảng dạy, hình thức đánh giá...Số tiết học môn Ngữ văn trong 1 năm (140 tiết) là vừa sức học sinh.
    * Môn Lịch sử: Quan tâm phát triển năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực tin học... Chú trọng đến điều kiện thực tế củaViệt Nam,đặc trưng vùng miền là ý tưởng rất tốt.
    * Môn Địa lý: Chương trình được sắp xếp, cấu trúc hợp lý từ nhận thức lý tính đến phát triển năng lực cho các em học sinh. Nội dung chương trình thể hiện sự cân đối giữa lý thuyết và thực hành; học sinh được thực hành nhiều hơn so với chương trình hiện hành.
    * Các môn khác: Thống nhất cao với dự thảo CT tổng thể, không có ý kiến thêm.
    * Kiến nghị:
    - Quá trình biên soạn sách giáo khoa, cần giảm tải các đơn vị kiến thức mang tính chất hàn lâm, chứng minh công thức một cách dài dòng.Những bài toán gắn dấu * mang tính chất đánh đố học sinh, gây khó khăn đối với học sinh trung bình và yếu.
    - Sách giáo khoa nên xây dựng theo cấu trúc mở, gọn nhẹ có nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau, không nhất thiết phải theo một khuôn mẫu, một giải pháp bắt buộc.Tăng cường số lượng bài tập áp dụng gắn với thực tiễn, giảm tải các bài tập mang tính chất “giấy bút” không gắn với thực tiễn đời sống, gây lãng phí thời gian.
    - Chương trình cho phép học sinh tự chọn môn học song ở cấp tiểu học, nếu học sinh không tự chọn tiếng dân tộc thiểu số thì không có môn học tự chọn nào.
    - Môn học bắt buộc có phân hóa ở tiểu học gồm các môn Thế giới công nghệ, Tìm hiểu tin học, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Trong Chương trình có quy định một số chủ đề hoặc học phần học sinh được tự chọn tùy theo nguyện vọng, nên khi các trường tổ chức thực hiện sẽ gây ra sự khó khăn, phức tạp về công tác quản lý đó là: Học sinh tiểu học chưa biết lựa chọn các môn hay chủ đề phù hợp với bản thân. Nếu theo nguyện vọng của học sinh có thể sẽ có những môn học hay hoạt động mà học sinh lựa chọn nhưng nhà trường không đáp ứng được do chưa đảm bảo về cơ sở vật chất, giáo viên, ... thì sẽ xảy ra việc áp đặt (ép) học sinh lựa chọn chủ đề là thế mạnh của nhà trường.
    - Một số môn học và hoạt động giáo dục theo dự thảo có tính tích hợp. Nhưng thực tế hiện nay, nhiều nhà trường còn lúng túng trong tổ chức thực hiện; do đó, khi ban hành chương trình cụ thể cho từng môn học, Bộ GDĐT cần có quy định, hướng dẫn cụ thể về cách thức tổ chức thực hiện.
    - Đối với môn Giáo dục thể chất, thời gian qua, chủ yếu được tổ chức hoạt động với tính chất thể dục, thể thao; nhưng theo dự thảo CT tổng thể, môn này còn đặt ra yêu cầu về bồi dưỡng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, thể trạng, tâm lý, tinh thần... Do đó, Bộ GDĐT cần có quy định, hướng dẫn cụ thể về cách thức tổ chức thực hiện môn học này.
    - Việc đánh giá kết quả giáo dục từng học sinh đối với các môn Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật cần thể hiện sự phân hóa rõ hơn để khích lệ học sinh nỗ lực học tập; không nên đánh giá bằng cách xếp loại “Đạt” hoặc “Chưa đạt”.
    c) Đối với cấp Trung học phổ thông:
    Thống nhất cơ bản với Dự thảo CT tổng thể. Tuy nhiên, có một số ý kiến và đề xuất sau:
    - Nên cơ cấu lại thời lượng đối với môn Toán và Ngữ văn lớp 11 và 12 cho hợp lý, theo hướng giảm thời lượng học bắt buộc đối với 2 môn này, nhằm phù hợp với mục tiêu định hướng nghề nghiệp. Cụ thể, đối với học sinh định hướng về nhóm nghề thuộc lĩnh vực KHXH và nghệ thuật, có thể học môn Toán bắt buộc với 105 tiết; đối với học sinh định hướng về nhóm nghề thuộc lĩnh vực KHTN có thể học môn Ngữ văn bắt buộc với 105 tiết.
    - Phần định hướng nội dung giáo dục của hoạt động trải nghiệm sáng tạo cần thể hiện rõ ràng, cụ thể hơn; bao gồm nội dung tích hợp hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong các môn học và nội dung hoạt động trải nghiệm sáng tạo thông qua các hoạt động khác.Hoạt động trải nghiệm sáng tạo chưa chia tách rõ nội dung nào thuộc về hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nội dung nào thuộc về phần thực hành của các môn học riêng biệt. Vì vậy khó hình dung ra nhiệm vụ của người giáo viên dạy hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    - Đề nghị cơ cấu lại số tiết trong các môn học tự chọn bắt buộc để có sự cân đối trong các tổ hợp môn tự chọn. Đối với các môn học tự chọn: Theo dự thảo, có 60 tiết học tự chọn (học sinh có thể học hoặc không học), tuy nhiên, thời gian thực học của một năm học là 37 tuần (35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương”; vậy nếu học sinh không tự chọn 60 tiết học này, thì có được nghỉ không và trách nhiệm, hoạt động của giáo viên đối với 02 tuần này như thế nào?
    - Giai đoạn học ngoại ngữ có thể bắt đầu từ lớp 3 và đây là giai đoạn rất quan trọng đối với việc học ngoại ngữ của học sinh. Do đó những giáo viên dạy ngoại ngữ ở cấp tiểu học, trung học cơ sở cần phải thật sự có kinh nghiệm và đạt chuẩn; nếu không, sẽ tạo thành những “thói quen sai” khó điều chỉnh trong cách học, cách tư duy cũng như hình thành kỹ năng ngoại ngữ của học sinh ở cấp THPT. Nếu có thể, Bộ GDĐT cần ban hành cơ chế, hướng dẫn các cơ sở giáo dục trong việc hợp đồng giáo viên nước ngoài tham gia giảng dạy môn ngoại ngữ trong trường phổ thông.
    6. Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy học nội dung giáo dục của địa phương”. Quy định như vậy là hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương.
    7. Việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo CT tổng thể) phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trườnglà đáp ứng yêu cầu thực tiễn; góp phần định hướng giáo dục nghề nghiệp cho học sinh đạt kết quả tốt nhất, giúp học sinh có điều kiện phát huy và rèn luyện năng khiếu, sở trường của bản thân; đồng thời nhằm thực hiện hiệu quả quy định tại Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT: “Giáo dục định hướng nghề nghiệp bảo đảm học sinh tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng”.
    III. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Dự thảo CT tổng thể nêu: “Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GDĐT được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông” là rất hợp lý, tiếp cận nền giáo dục của các nước tiên tiến.
    IV. Về điều kiện thực hiện Chương trình GDPT
    1. Quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường nên có sự thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới, cụ thể: không quá 40 học sinh/lớp; mỗi cơ sở giáo dục không có quá 03 điểm trường.
    2. Quy định hiện hành về số lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học cần được điều chỉnh mới đảm bảo thực hiện được CT GDPT mới. Cụ thể: tăng định biên 1,2 giáo viên/lớp đối với lớp học 1 buổi/ngày lên mức 1,4 giáo viên/lớp; tăng định biên 1,5 giáo viên/lớp đối với lớp học 2 buổi/ngày lên mức 1,7 giáo viên/lớp (chủ yếu là để tăng cường giáo viên tiếng Anh và Tin học). Đối với quy định về số lượng và cơ cấu giáo viên trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông, có thể giữ nguyên như hiện hành.
    3. Quy định hiện hành về cơ sở vật chất trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông rất cần có sự thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới. Cụ thể là tăng cường phòng học, phòng thực hành thí nghiệm, phòng tin học…
    4. Quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội là rõ ràng, phù hợp, không cần phải điều chỉnh, bổ sung.
    5. Đối với trường tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày cần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 - 2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022 - 2023 dạy học 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp tiểu học”; điều này thể hiện quyết tâm cao của Bộ GDĐT hướng đến mục tiêu chuẩn hóa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Tuy nhiên, để thực hiện đảm bảo mục tiêu này, Bộ GDĐT cần có Đề án đầu tư xây dựng phòng học thật hợp lý, khả thi, triển khai đồng bộ theo theo lộ trình, nhằm đáp ứng yêu cầu học 2 buổi/ngày cho tất cả học sinh tiểu học; đồng thời bổ sung đủ số lượng giáo viên theo định mức.
    6. Trong dự thảo CT tổng thể, môn học, hoạt động giáo dục được xem là khó tổ chức thực hiện trong điều kiện thực tế của nhiều trường THPT là môn Khoa học máy tính, Thiết kế và Công nghệ, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    7. Để triển khai, tổ chức thực hiện hiệu quả các môn học và hoạt động giáo dục như dự thảo CT tổng thể, Bộ GDĐT cần có đề án tổng thể, đồng bộ về đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị bổ trợ đầy đủ, chất lượng cho các nhà trường.

    Trên đây là báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo Kiên Giang theo Công văn số 1496/BGDĐT-VP ngày 12/4/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo./.

Ủng hộ bài viết này