Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Thực hiện công văn số 1496/BGDĐT-VP ngày 12/4/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc góp ý dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, ngày 23/4/2017, Sở Giáo dục và Đào tạo Lạng Sơn đã tổ chức hội nghị trực tuyến lấy ý kiến góp ý của cán bộ quản lý, giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy ở các cấp học Tiểu học, trung học cơ sở và Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Lạng sơn về dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.
    Hội nghị đã nhận được ý kiến góp ý bằng văn bản của 11 Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện, thành phố và 25 ý kiến của các trường THPT. Hội nghị đã có trên 500 cán bộ quản lý, giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy ở các cấp học trên địa bàn tỉnh tham dự; ngoài các ý kiến góp ý bằng văn bản, hội nghị được nghe 20 ý kiến phát biểu của các cơ quan quản lý giáo dục và các cơ sở giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh, cụ thể như sau:
    I. Về quan điểm xây dựng chương trình
    Các ý kiến góp ýcủa các cơ sở giáo dục trong tỉnh nhất trí với quan điểm xây dựng chương trình giáo dục phổ thông tổng thể như dự thảo.
    II. Về mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông
    Nhất trí với mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông như dự thảo.
    III. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của học sinh
    Nhất trí với các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực như trong dự thảo.
    IV. Về kế hoạch giáo dục
    Việc phân chia kế hoạch giáo dục thành hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp là phù hợp với mục tiêu giáo dục, hướng nghiệp và tâm sinh lý, lứa tuổi học sinh.
    1. Giai đoạn giáo dục cơ bản
    1.1. Các môn học:Nhất trí việc phân chia các môn học cấp tiểu học và trung học cơ sở được chia thành môn học bắt buộc và môn học tự chọn như dự thảo.
    1.2. Thời lượng môn học:
    a) Đối với cấp tiểu học:
    - Thời lượng môn học ở các lớp Tiểu học: Hầu hết các ý kiến đều không đồng tình việc quy định thời gian mỗi tiết học ở cấp tiểu học như dự thảo, bởi nếu quy định như trên thì đòi hỏi mỗi lớp học phải có một khu biệt lập để không ảnh hưởng đến các lớp học khác. Thời gian mỗi tiết học khác nhau sẽ khó khăn cho các trường khi điều hành hiệu lệnh trống, khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động giáo dục khác xen kẽ vào các khoảng thời gian trống giữa các tiết học.
    - Các trường dạy học 2 buổi/ngày bố trí không quá 7 tiết học/ngày là lãng phí thời gian cho các buổi đến trường, vì thời lượng một tiết học đối với cấp tiểu học chỉ có 35 phút. Đề nghị điều chỉnh, tăng lên mức không quá 8 tiết học/ngày (Sáng 5 tiết, chiều 3 tiết).
    - Môn học Trải nghiệm sáng tạo, không nên đưa thành một môn học riêng biệt mà nên ghép hoạt động này gắn với các hoạt động giáo dục và gắn với một số môn cụ thể.
    - Thời lượng môn Toán lớp 1 (105 tiết) như dự thảo CTGDPT tổng thể là quá ít so với môn Tiếng Việt (420 tiết).
    - Thời lượng môn tự học có hướng dẫn ở lớp 5 (35 tiết) là quá ít, cần tăng thêm.
    - Chương trình mới nặng về kiến thức hơn rất nhiều, quá tải hơn nhiều so với chương trình hiện hành và chắc chắn sẽ rất áp lực cho trẻ trong độ tuổi 6 – 7.
    b) Đối với cấp THCS:
    Cơ bản đồng ý với dự thảo về quy định các môn học, thời lượng học, tuy nhiên hầu hết các ý kiến đều cho rằng không nên coi hoạt động trải nghiệm sáng tạo là môn học mà nên gắn hoạt động trải nghiệm sáng tạo với các môn khác, trong đó có quy định số tiết tối thiểu dành cho hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    2. Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp
    a) Nhất trí việc phân chia giai đoạn định hướng nghề nghiệp như dự thảo, trong đó Lớp 10 là lớp dự hướng nghề nghiệp và lớp 11,12 là các lớp phân hoá sâu của giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp.
    b) Tuy nhiên, Hội đồng biên soạn chương trình xem xét điều chỉnh thời lượng của một số môn học và chuyên đề, cụ thể:
    - Giảm số tiết của môn âm nhạc và mỹ thuật của lớp 11, lớp 12 (105 tiết/môn) xuống mức 70 tiết/môn để tăng số tiết học của môn học hoạt động nghệ thuật ở lớp 10.
    - Không nên để Chuyên đề học tập là một môn học độc lập, có thể chuyển nội dung này gắn với các hoạt động giáo dục, hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở các môn học.
    V. Định hướng về nội dung giáo dục
    - Cơ bản nhất trí như dự thảo.
    - Các ý kiến đề nghị:
    + Hội đồng xem xét bổ sung phần môn học Lịch sử ở lớp 1, lớp 2 hoặc cần đưa nội dung môn học này vào môn học cuộc sống quanh ta.
    + Môn học Thế giới công nghệ ở lớp 1,2,3 chưa thực sự cần thiết.
    VI. Định hướng về phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục
    Nhất trí nội dung định hướng về phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả như dự thảo
    VII. Về điều kiện thực hiện chương trình giáo dục phổ thông
    Hầu hết các ý kiến đều cho rằng, việc thực hiện chương trình mới vào năm 2018 là chưa khả thi về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, bởi các lý do:
    - Về đội ngũ: Giáo viên phổ thông lâu nay vẫn chú trọng dạy những môn truyền thống, khi bắt đầu chuyển đổi sang dạy những môn mới sẽ gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi phải trải qua các lớp bồi dưỡng, đào tạo. Vì có nhiều môn học mới, trong khi định mức giáo viên phổ thông cơ bản đã tuyển đủ, nên khó có thể tuyển thêm giáo viên mới. Nếu sử dụng giáo viên cũ, nhưng không được đào tạo chuyên môn theo môn học mới, do vậy hầu hết giáo viên giảng dạy mà nắm không chắc, hiểu không kĩ kiến thức thì giảng dạy không thể đảm bảo chất lượng.
    - Chương trình giáo dục mới có nhiều môn học tự chọn bắt buộc có phân hóa, phụ thuộc vào sự lựa chọn của học sinh, dẫn đến tình trạng thừa, thiếu cục bộ giáo viên, khó khăn trong việc bố trí giáo viên.
    - Về cơ sở vật chất của các trường phổ thông hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu để thực hiện nội dung chương trình giáo dục phổ thông mới, vì có nhiều môn học mới đòi hỏi phải đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy, học và các hoạt động giáo dục như: Tin học, âm nhạc….; các môn họ tự chọn chuyên sâu….
    VIII. Một số biểu hiện phẩm chất, năng lực của học sinh
    Các ý kiến đồng tình với dự thảo, tuy nhiên đề nghị Hội đồng biên soạn xem xét điều chỉnh, bổ sung ở phần một số biểu hiện phẩm chất, năng lực của học sinh như sau:
    1. Ở trang 32 (Mục 1. Yêu đất nước): Nên bổ sung là yêu quê hương, đất nước với các nội dung: Yêu quê hương đất nước, bồi dưỡng tinh thần tự hào dân tộc; yêu các truyền thống tốt đẹp, tinh hoa dân tộc.
    2. Trang 33 (Mục 2.2. Tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người) “Biết chia sẻ với những bạn có hoàn cảnh khó khăn, các bạn ở vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật và đồng bào bị ảnh hưởng của thiên tai”
    Bổ sung “ảnh hưởng của các rủi ro trong cuộc sống”. Ngoài các nội dung ở mục 2.2 thì nên bổ sung: Sẵn sàng giúp đỡ bạn khi gặp khó khăn, giúp bạn sửa chữa thói hư, tật xấu.
    3. Trang 34 (Mục 4. Chăm làm)
    Bổ sung: Thực hiện tốt thời gian biểu giữa học tập, lao động vừa sức, vui chơi giải trí và nghỉ ngơi,...
    4. Trang 34 (Mục 5. Trung thực:: “Không tự tiện lấy đồ vật, tiền bạc của người thân, bạn bè, thầy cô và mọi người”.
    Sửa thành: “Không tự tiện lấy đồ vật, tiền bạc của người khác”
    5. Trang 35 (Mục 6.1. Trách nhiệm)
    Nên bổ sung: Thực hiện tốt các quy định, sự hướng dẫn của người lớn, thầy cô để đảm bảo an toàn cho bản thân các em.
    6. Trang 36 (Mục 6.1. Có trách nhiệm với môi trường sống).
    Nên bổ sung: Báo với người có trách nhiệm khi thấy có hành vi xâm hại thiên nhiên.
    7. Trang 42: Viết đúng chính tả và ngữ pháp; viết được bài văn ngắn về các chủ đề quen thuộc (bằng chữ viết tay đánh máy)
    Nên thay: (bằng chữ viết tay hoặc đánh máy) vì học sinh được học Tin học chiếm tỷ lệ thấp.
    8. Trang 49: (Mục 7.3. Giao tiếp)
    Nên bổ sung: Giao tiếp, trình bày và sử dụng
    9. Trang 49, 50 (Mục 8.2). Hiểu biết và ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức
    Nên bổ sung: Bước đầu nắm bắt và phân biệt được thông tin chính thống và thông tin bịa đặt trên mạng xã hội.
    10. Trang 50: Nên bổ sung: Sử dụng được ... trên mạng máy tính đối với các trường vùng thuận lợi. (Vì các điểm trường vùng khó khăn chưa có mạng).
    11. Trang 51: Nên bổ sung: Sử dụng được ... phù hợp đối với các trường vùng thuận lợi. (Vì các điểm trường vùng khó khăn chưa đáp ứng).
    12. Trang 52, 53: 10.4. Nhận biết và tham gia hoạt động TDTT
    Nên bổ sung: Tập thói quen luyện tập TDTT trong cuộc sống hàng ngày; Trung thực tự tin trong hoạt động TDTT
    IX. Một số ý kiến cho rằng chương trình giáo dục phổ thông có sự thay đổi nhiều, nên thực hiện thí điểm, rút kinh nghiệm trước khi triển khai đại trà.

    Sở Giáo dục và Đào tạo Lạng Sơn trân trọng báo cáo./.

Ủng hộ bài viết này