Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Thực hiện công văn số 1677/BGDĐT-GDTrH ngày 25/4/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc góp ý dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể; tiếp theo công văn số 1496/BGDĐT-VP ngày 12 tháng 4 năm 2017 của Bộ GDĐT; Sở Giáo dục và Đào tạo Ninh Bình đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến góp ý tại các cơ sở giáo dục và Hội nghị góp ý kiến tại Sở. Sau khi tổng hợp các ý kiến góp ý của các cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên tại Sở GDĐT, Phòng GDĐT và tất cả các trường TH, THCS, THPT, TT GDTX trên địa bàn tỉnh, Sở GDĐT báo cáo góp ý cho Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể như sau:

    I.VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG DỰ THẢO CT TỔNG THỂ
    1.Những vấn đề chung
    1.1.Dự thảo CT tổng thể đã thể hiện việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ chưa, ở mức độ nào?

    Nội dung Dự thảo CT tổng thể đã thể hiện việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ; phù hợp với đặc điểm con người, văn hóa Việt Nam, các giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị chung của nhân loại; đặt nền tảng cho một xã hội nhân văn, phát triển bền vững.

    1.2.Dự thảo CT tổng thể đã tiếp cận xu hướng phát triển CT GDPT của các nước tiên tiến chưa, ở mức độ nào?


    - Về cơ bản dự thảo đã tiếp cận được với xu thế phát triển của khu vực và thế giới trong thời kỳ hội nhập. Tiếp cận được với những thay đổi của quá trình phát triển khoa học và công nghệ hiện đại (Nhưng chưa đồng bộ về điều kiện thực hiện: CSVC, Giáo viên, kinh phí …)
    - Dự thảo CT GDPT chưa thực sự phù hợp với các vùng miền trên cả nước, mới chỉ phù hợp ở các trường trung tâm, thành phố.

    1.3.Dự thảo CT tổng thể có kế thừa các CT GDPT đã có của Việt Nam không, ở mức độ nào?

    Cơ bản nội dung của chương trình tổng thể các môn học có tính kế thừa các CT GDPT đã có của Việt Nam, còn một số môn học thay đổi hình thức dạy học, thêm thời lượng, nội dung các môn học chưa xây dựng cụ thể nên chưa có cơ sở để đánh giá.


    1.4.Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?

    Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể còn có sự trùng nhau. Ví dụ: Phẩm chất: Yêu đất nước bao hàm cả hai yếu tố tự nhiên (yêu thiên nhiên) và yếu tố xã hội (trong đó có con người). Nên có thể gộp 2 phẩm chất yêu đất nước; yêu con người này thành một (Yêu đất nước). Bổ sung tính kỷ luật.

    1.5.Các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?

    - Yêu đất nước, kỷ luật, cộng đồng, cần cù, tiết kiệm, trung thực, khoan dung là những những năng lực cơ bản học sinh cần hướng tới. Trong Dự thảo Chương trình tổng thể đòi hỏi học sinh phải hình thành quá nhiều năng lực. Mặt khác một số năng lực lại tách ra thành những năng lực quá cụ thể, không cần thiết. Ví dụ: Năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên, xã hội và công nghệ có thể tổng hợp thành năng lực nhận thức.
    - Việc chia nhỏ các dạng năng lực cần đạt sẽ làm mất đi sự mềm dẻo của môn học. Trong khi năng lực đạt được mang tính chủ quan của cá nhân người học vì vậy việc xác định các dạng năng lực cần đạt trong các bộ môn nó chỉ mang tính hình thức.
    - Đối với năng lực chung thì các cấp học, bậc học đều phải giống nhau. Bởi nếu ở tiểu học có nhưng THPT không còn thì thiếu tính đồng quy khi thực hiện chương trình.
    - Một số năng lực trong chương trình đã đưa ra chi tiết các biểu hiện cần đạt song vẫn còn một số năng lực chỉ mang tính liệt kê chưa phải là điều cần đạt. Ví dụ: Năng lực 1.2; 1.4; 3.1; 3.2;


    1.6.Các năng lực chuyên môn cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?

    Đối với năng lực chuyên môn chỉ nên dừng lại ở nội dung tiếp cận như dự thảo Chương trình GD tổng thể hiện nay là đủ, là phù hợp bởi do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi đặc biệt là vấn đề lựa chọn nghề của học sinh sau khi hết phổ thông. Tuy nhiên cần đổi mới mục tiêu, chương trình đối với các trường THCN, CĐ, ĐH. Cái chúng ta cần hiện nay là đào tạo ra những con người Việt Nam mới, có khả năng và kỹ năng làm việc sau khi tốt nghiệp các trường nghề, CĐ, ĐH mặt khác đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, được các cơ quan doanh nghiệp chấp nhận, sử dụng.

    1.7.Biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?

    Biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể cơ bản đã phù hợp. Tuy nhiên việc phân định nội dung giữa một số phẩm chất còn chồng chéo, chưa rõ ràng. Ví dụ như phẩm chất "yêu đất nước" với "yêu con người", vì "yêu đất nước" thì cần phải yêu cả các yêu tố tự nhiên và xã hội, trong xã hội thì có "con người". Hay là phẩm chất "chăm học" và "chăm làm" nếu học sinh đã "chăm làm" thì có nghĩa là đã "chăm học".Nên tổng hợp ngắn gọn các phẩm chất.

    1.8.Biểu hiện yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?

    - Trong dự thảo, ba nhóm năng lực chủ đạo được hướng đến là: “năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo”, song xét về ý nghĩa thì chúng bao hàm lẫn nhau. Cụ thể hơn như sau: năng lực hợp tác đã có thể bao gồm năng lực giao tiếp, năng lực tự chủ có thể bao gồm tính chủ động học tập, và năng lực giải quyết vấn đề bao gồm tất cả các năng lực trên.
    Kiến nghị:
    + Nên lấy năng lực giải quyết vấn đề là năng lực nòng cốt mà nền giáo dục hiện đại hướng tới vì nó kết hợp một nhóm các năng lực khác như năng lực tư duy (phản biện, sáng tạo), năng lực tự chủ, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ (bản địa, ngoại ngữ), năng lực liên văn hóa, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và năng lực ứng phó truyền thông.
    + Thay vì nêu lên những năng lực nhỏ hẹp như “thẩm mỹ, “thể chất”, “tính toán”, “tìm hiểu tự nhiên và xã hội” qua từng môn học thì nên chia ra thành các mục tiêu học tập bao gồm phát triển mảng kiến thức và kĩ năng liên quan qua từng cấp độ và từng môn học cụ thể.
    - Cần có lộ trình cụ thể, được công khai minh bạch. Nếu thực hiện ngay là nóng vội. Từ trước đến nay tất cả các công trình nghiên cứu, những sự thay đổi dù ở nước ta hay các nước trên thế giới cần có thực nghiệm, thử nghiệm trước khi tiến hành triển khai đại trà.
    - Dự thảo nên xác lập, làm rõ năng lực đọc, nói đúng tiếng Việt của học sinh trong chương trình tổng thể bởi trong dự thảo chưa nhấn mạnh, làm rõ việc nói, đọc đúng tiếng Việt của học sinh trong năng lực sử dụng tiếng Việt. Việc đọc đúng, nói đúng có thể sẽ bị bỏ qua trong biên soạn chương trình chi tiết môn học tiếng Việt của các cấp học và lớp học khi cụ thể hóa. Đọc và nói đúng tiếng Việt là kỹ năng căn bản của môn tiếng Việt nhất là trong tình hình đổi mới giáo dục theo Nghị quyết 29 của TƯ hiện nay. Ngành giáo dục phải dạy học sinh nói đúng, viết đúng tiếng mẹ đẻ, giáo dục học sinh yêu tiếng nói của dân tộc, giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt.
    - Đối với Giáo dục Tin học thì không nên quá “tham vọng” mà chỉ nên đặt mục tiêu học sinh biết sử dụng máy tính phụ vụ mục đích học tập. Việc phát triển tư duy hệ thống, thiết kế, điều khiển và tự động hóa nên để ở bậc sau THPT. Bởi vì hiện nay nhiều trường nghề sau khi sinh viên ra trường còn chưa chắc đã đạt được mục tiêu mà Chương trình tổng thể đề ra.
    - Một số môn học dễ bị hiểu sai và khi thực hiện cũng không phải dễ dàng đạt được hiệu quả. Ví dụ, môn giáo dục thể chất, hầu hết được hoạt động với tính chất thể dục, thể thao. Trong khi đó môn này còn đòi hỏi về bồi dưỡng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng... Liệu đội ngũ giáo viên thể dục hiện nay có thể đảm trách? Như vậy phải bồi dưỡng làm sao, kết hợp với giáo viên bộ môn khác như thế nào?

    2.Kế hoạch giáo dục
    2.1.Dự thảo CT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?

    - TH: Dự thảo CT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” chưa thực sự phù hợp vì học sinh Tiểu học chưa biết lựa chọn các môn hay chủ đề phù hợp với bản thân. Nếu theo nguyện vọng của HS có thể có những môn học hay hoạt động mà HS lựa chọn nhưng nhà trường lại không đáp ứng được do chưa đảm bảo về cơ sở vật chất, GV… thì sẽ xảy ra việc ép HS lựa chọn chủ đề là thế mạnh của nhà trường. Rõ ràng như thế HS cũng không được quyền tự lựa chọn chủ đề hay hoạt động mà các em yêu thích…Bên cạnh đó, chương trình cho phép HS tự chọn môn học song thực tế có ít sự lựa chọn môn học. Thậm chí, ở Tiểu học, nếu HS không tự chọn tiếng DT thiểu số thì không có môn học tự chọn nào. Đối với cấp tiểu học nên hoán đổi “Tìm hiểu công nghệ” ở các môn học bắt buộc với “Giáo dục thể chất” ở các môn học bắt buộc có phân hóa.
    - THCS: Chưa phù hợp vì thực tế nếu trong một lớp số học sinh chọn môn tự chọn không giống nhau thì sẽ gây khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động giáo dục. Nếu đã là môn tự chọn bắt buộc thì nên đưa vào môn học bắt buộc.
    - Ở các lớp 11, 12, ngoài một số môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc (Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng và an ninh, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo), học sinh chỉ cần chọn 3/11 môn còn lại phù hợp với định hướng nghề nghiệp. Nếu đã sử dụng thuật ngữ “tự chọn” thì bỏ cụm từ “bắt buộc”. Chỉ nên yêu cầu học sinh chọn 3/11 môn và 1 chuyên đề; không nên để lắm khái niệm như dự thảo.

    2.2.Dự thảo CT tổng thể nêu: “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của CT GDPT tương đương với 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?

    - Bố trí thời gian như trên là khó thực hiện được từ khi khai giảng đến kết thúc năm học do thời gian từ khi học đến hết tháng 5: tháng 8 học trước 1 tuần + 9 tháng x 4 tuần = 37 tuần (chưa kể thời gian nghỉ tết, lễ, nghỉ học kỳ và tổ chức các kỳ thi, kiểm tra).
    - Đối với cấp THCS và THPT đa số chỉ học 1 buổi/ngày, số tiết là 26 - 30 tiết/tuần chưa kể môn học tự chọn, trong đó lớp 8,9,10: 30 tiết/tuần (mỗi ngày 5 tiết), thời gian kết thúc buổi học của học sinh buổi sáng khoảng 11 giờ 45 phút kéo dài trong cả tuần như vậy là căng thẳng với học sinh.
    Đề xuất:
    - Nên chỉ để 35 tuần thực học, việc tăng 2 tuần sẽ ảnh hưởng đến khối lượng công việc của giáo viên và thời gian giáo viên tự bồi dưỡng trong hè; thời gian học sinh học nhiều hơn nên ảnh hưởng đến việc vui chơi, nghỉ hè của học sinh.
    - 2 tuần thực học dành cho môn học tự chọn và nội dung giáo dục địa phương nên lồng ghép và tích hợp trong các các môn học trong chương trình. Do vậy 2 tuần này để dự phòng.
    - Giảm thời gian thực học trong một năm học, thời gian thực học các môn học của CT GDPT.
    - Giảm số tiết học/tuần, đảm bảo mỗi tuần ít nhất học sinh có 1 buổi học 4 tiết. Dành thời gian cho sinh hoạt trường, lớp, giao ban công việc trong tuần và giảm căng thẳng cho học sinh.

    2.3.Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học nhiều hay ít? Nếu nhiều (ít) thì nên giảm (tăng) như thế nào?

    - Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã giảm so với trước, tuy nhiên một số một học được ẩn, hoặc gộp nên thực tế số môn học chưa giảm đáng kể.
    - Khối lượng còn khá cồng kềnh và cấu trúc chưa thể hiện rõ sự cải tiến và có tính phát triển. Có thể kết hợp một số nội dung để giảm số lượng môn học. Ví dụ, ở cấp bậc tiểu học “Cuộc sống quanh ta” là môn học hoàn toàn có thể kết hợp với môn “Tìm hiểu xã hội” hay “Tìm hiểu tự nhiên”. Bởi vì kiến thức và kĩ năng của hai lĩnh lực khoa học, xã hội có thể giúp người học hiểu, giải thích và cảm nhận được những nội dung, hiện tượng của cuộc sống xung quanh.
    - Cấp THPT: Tổng số môn học như dự thảo là quá nhiều và số tiết học cũng quá lớn. Thậm chí, học sinh lớp 10 có tới 15 môn học bắt buộc và tự chọn bắt buộc, chưa tính 2 môn tự chọn. Tổng số tiết trong một năm học từ 985 tiết đến 1.184 tiết học. Số môn nhiều, lượng kiến thức nặng, nhất là lớp 10. Đối với giai đoạn giáo dục hướng nghiệp: số lượng các môn học bắt buộc trong một năm học của học sinh nhất là học sinh khối 10 là quá nhiều, nhiệm vụ của lớp 10 vẫn chưa rõ ràng.
    - Đối với giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng an ninh, khi xây dựng chương trình và triển khai nên cho học riêng thành một buổi. Tránh tình trạng học xen kẽ như phần lớn các trường đang thực hiện như hiện nay. Để giờ thể dục đạt hiệu quả thì việc bố trí thay đồng phục, khởi động, học tập và nghỉ ngơi phải hài hòa. Nếu học xen kẽ thì giờ kế tiếp giờ thể dục học sinh mệt mỏi, dẫn đến không hiệu quả khi học tập các môn tiếp theo.

    2.4.Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Dự thảo đã đưa ra các môn học khá đa dạng và thiết yếu với nhu cầu phát triển của cá nhân người học cũng như nhu cầu phát triển chung của xã hội. Tuy nhiên khối lượng còn khá cồng kềnh và cấu trúc chưa thể hiện rõ sự cải tiến và có tính phát triển, vì vậy có thể kết hợp một số nội dung để giảm số lượng môn học. Ví dụ, ở cấp bậc tiểu học “Cuộc sống quanh ta” là môn học hoàn toàn có thể kết hợp với môn “Tìm hiểu xã hội” hay “Tìm hiểu tự nhiên”. Bởi vì kiến thức và kĩ năng của hai lĩnh lực khoa học, xã hội có thể giúp người học hiểu, giải thích và cảm nhận được những nội dung, hiện tượng của cuộc sống xung quanh.

    2.5.Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?

    Đối với TH: Thời lượng một theo dự thảo chưa hợp lý. Cần thống nhất về thời gian chung cho 1 tiết học ở tất cả các lớp. Nên quy định từ 35 - 40 phút/1 tiết (bao gồm cả giải lao giữa tiết và chuyển giữa các tiết học). Các trường dạy học 2 buổi/ngày bố trí không quá 7 tiết học/ngày là chưa hợp lý. Nên điều chỉnh trường dạy học 2 buổi/ngày bố trí không quá 7 giờ/ngày. Môn toán Lớp 1 nên phân phối 04 tiết toán/tuần; Môn toán 5: 210 tiết/năm. Tương đương với 6 tiết/tuần. Theo chúng tôi quá nặng, nên chăng thời lượng môn toán bình quân 5 tiết/ tuần, tương đương 175 tiết/năm. Còn 35 tiết chuyển sang tự học có hướng dẫn.
    Đối với THCS: mỗi ngày học 1 buổi/ngày, không quá 5 tiết học. Trong khi đó số tiết là 29 - 30 tiết/tuần, bình quân 5 tiết/ buổi, như vậy, số giờ chiếm hết thời lượng của 1 tuần, số tiết chiếm hết thời gian của 1 buổi, không còn thời gian dành cho sinh hoạt tập thể trường, lớp… Cấp THCS là giai đoạn giáo dục cơ bản, do đó gánh nặng chương trình sẽ tập trung ở giai đoạn này, nên kiến thức cơ bản sẽ là quá tải đối với các em. Vì vậy, khi xây dựng chương trình môn học cụ thể cũng cần xem xét để giới hạn lại kiến thức và giảm số tiết/tuần. (môn GDCD các khối lớp nên giảm xuống còn 01 tiết/tuần). Tăng hướng nghiệp dạy từ lớp 6.
    Đối với THPT: Cần nghiên cứu để tổng số tiết học cho các môn học trong một tuần không quá 28 tiết.Số tiết trung bình/tuần là 30 tiết thì sẽ không có thời gian cho các hoạt động chào cờ đầu tuần (1 tiết) và sinh hoạt cuối tuần (1 tiết).Việc phân bổ số tiết học ngoại ngữ ở bậc trung học phổ thông chỉ có 3 tiết/tuần là rất ít so với các nước trong khu vực. Đây là một yếu tố dẫn đến rất khó nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ nói chung, tiếng Anh nói riêng. Môn ngoại ngữ cần được rèn luyện kỹ năng nhiều. Tuy nhiên do sỹ số lớp đông, thời lượng ít dẫn đến đa phần học sinh học mà không được thực hành. Do vậy, kiến nghị tăng thời lượng dạy ngoại ngữ 1.

    2.6.Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy họcnội dung giáo dục của địa phương”. Quy định như vậy đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?

    Quy định như vậy là chưa hợp lý vì không công bằng cho mọi học sinh. Vì ở những vùng có điều kiện khó khăn về kinh tế, về trình độ nên cho tổ chức học có hướng dẫn trên lớp và dạy họcnội dung giáo dục của địa phương để giúp học sinh được củng cố kiến thức và nắm được lịch sử địa phương. Nên phần giáo dục địa phương phải dạy ở trong các môn học.

    2.7.Theo Thầy (Cô), việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo CT tổng thể) phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường có ưu điểm gì, hạn chế gì?

    - Ưu điểm: Khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động; thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới. Phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường để giúp học sinh dễ chọn khối thi THPT Quốc Gia và lựa chọn nghề nghiệp cho phù hợp với năng lực của học sinh. Có tính cá biệt hóa nhằm phát huy năng lực cho học sinh. Các môn học ở bậc THPT nên chỉ dừng ở mức độ tiếp cận. Giáo dục nghề nghiệp nên dành cho các cơ sở đạo tạo nghề, các trường cao đẳng, đại học. Cốt lõi của vấn đề là cần phải thay đổi hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tập trung vào đào tạo nhân lực đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động của các cơ quan, doanh nghiệp. Hiện nay nhiều môn học trong các trường cao đẳng, đại học còn hàn lâm, chưa đáp ứng đối với yêu cầu của người sử dụng lao động.Thuận lợi phát triển tài năng HS ở thành phố.
    - Nhược điểm khó khăn cho khâu tổ chức giảng dạy nếu làm không tốt hiệu quả không cao.Một số học sinh lựa chọn thiếu cân nhắc, theo số đông. Những trường nông thôn khó thực hiện. Một số môn học mà học sinh không chọn lựa thì giáo viên thừa gây khó khăn cho nhà trường trong việc sắp xếp đội ngũ giáo viên.

    3.Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục

    Dự thảo CT tổng thể nêu: “Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GDĐT được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Một điểm mới trong dự thảo được thể hiện trong khâu kiểm tra, đánh giá. Nếu trước đây chủ yếu đánh giá học sinh thông qua các bài kiểm tra (kiểm tra miệng, 15 phút, 1 tiết, học kì) thì nay việc kiểm tra đánh giá có thể thông qua các bài viết, dự án học tập, sản phẩm học tập của học sinh… Đặc biệt là chú trọng đánh giá trên lớp, đánh giá quá trình, vì sự tiến bộ của học sinh, không so sánh học sinh này với học sinh khác mà chỉ so sánh sự cố gắng, sự tiến bộ của chính học sinh đó trong quá trình học tập, rèn luyện.
    Về cơ bản nhất trí như dự thảo. Ngoài ra chúng tôi xin có ý kiến như sau: Định hướng về phương pháp và đánh giá kết quả giáo dục phải có hướng dẫn thực hiện cụ thể, rõ ràng.

    II.VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CT GDPT
    1.Quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Quy định hiện hành về lớp học, điểm trường hiện nay là phù hợp với việc thực hiện chương trình GDPT mới.Quy định về số học sinh như hiện nay là chưa hợp lý để thực hiện chương trình GDPT mới (tiểu học không quá 35 học sinh/lớp; THCS, THPT không quá 45 học sinh/lớp). Do định hướng giáo dục đổi mới chuyển từ truyền thụ kiến thức sang định hướng phát triển phẩm chất và năng lực nên học sinh phải được thực hành, tham gia nghiên cứu khoa học và thực hiện các hoạt động trải nghiệm sáng tạo nếu học sinh trong lớp đông như trên thì khó thực hiện có hiệu quả và vất vả cho giáo viên trong quản lý, tổ chức học động học và hướng dẫn học sinh thực hiện nhiệm vụ.
    Đề xuất:cấp tiểu học không quá 30 học sinh/lớp; THCS, THPT không quá 35 học sinh/ lớp. Hoặc quy định từ 25 đến 35 HS/lớp tùy điều kiện cụ thể của từng trường, từng địa phương.

    2.Quy định hiện hành về số lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?

    Quy định hiện hành về số lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới.
    - Nên thay đổi tỷ lệ giáo viên/lớp đối với trường tiểu học dạy 2 buổi/ngày là 1,8 và có đủ cơ cấu giáo viên dạy các môn chuyên, nhất là giáo viên tin học. Ví dụ như tiểu học dạy 2 buổi/ ngày như hiện nay tỉ lệ giáo viên 1,5GV/lớp là chưa phù hợp như vậy cần phải tăng tỉ lệ giáo viên lên 1,8GV/lớp. Biên chế đủ giáo viên tin học cho các nhà trường, tăng tỉ lệ giáo viên Âm nhạc.
    - Cần bố trí đội ngũ cho phù hợp được đào tạo và được tập huấn theo chương trình mới để quá trình thực hiện có chất lượng và hiệu quả.
    - Bố trí thêm cơ cấu giáo viên tin học đối với cấp THCS; cần đào tạo, bồi dưỡng GV để có thể dạy môn KHTN, hay hoạt động trải nghiệm sáng tạo…
    - Đối với trường THPT khi thực hiện theo Chương trình dự thảo sẽ phải tăng số lượng giáo viên của các môn học chưa từng xuất hiện từ trước tới nay ở trường THPT. Ví dụ: giáo dục mỹ thuật, âm nhạc thì hiện nay ngay cả các trường THCS chưa đủ giáo viên, nếu áp dụng ngay thì các trường Sư phạm âm nhạc, mỹ thuật và biên chế chưa thực sự sẵn sàng.
    Cần phải có những quy định cụ thể về đội ngũ, bố trí sắp xếp giáo viên vì chương trình giáo dục phổ thông mới tăng cường các môn tự chọn, sự vênh lệch trong sự lựa chọn giữa các môn của học sinh sẽ làm thay đổi cơ cấu đội ngũ.
    Cơ cấu, chủng loại giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu chương trình giáo dục; Đặc biệt là cơ cấu, chủng loại, chất lượng đội ngũ giáo viên để giảng dạy, giáo dục các môn học đặc thù (Hoạt động nghệ thuật, Thiết kế và công nghệ, chuyên đề học tập, …) chưa đáp ứng được yêu cầu.
    + Cần phải có kế hoạch khảo sát một cách cụ thể, rõ ràng về số lượng và cơ cấu giáo viên ở từng môn trong các cơ sở giáo dục trước khi thực hiện chương trình mới nhằm tránh tình trạng thừa, thiếu giáo viên theo từng môn học trong các cơ sở giáo dục;
    + Cần xây dựng Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng giáo viên và có lộ trình thực hiện một cách rõ ràng, cụ thể theo từng giai đoạn, từng thời điểm trước và trong quá trình thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới ở các cơ sở giáo dục.

    3.Quy định hiện hành về cơ sở vật chất trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?

    - Đã là đổi mới để phù hợp với quốc khu vực và quốc tế thì cơ sở vật chất cũng phải thay đổi. Trong nhiều năm qua ngân sách đầu tư cho giáo dục là rất lớn nhưng không hiệu quả. Nhiều cơ sở giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, kinh tế còn khó khăn có sở vật chất còn thiếu thốn như hệ thống bàn ghế, điện sáng, quạt mát, máy tính… Các thiết bị dạy học tối thiểu chưa đủ, chất lượng thiết bị chỉ sử dụng được không quá 3 năm…
    - Việc tăng cường cơ sở vật chất thông qua xã hội hóa không phải cơ sở giáo dục nào cũng thực hiện được. Nếu kêu gọi sự ủng hộ của các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ của người đứng đầu cơ sở giáo dục đó cũng như điều kiện kinh tế xã hội địa phương. Nếu kêu gọi sự đóng góp ủng hộ của phụ huynh thì xã hội lên án là lạm thu.
    - Quy định hiện hành về cơ sở vật chất trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với CT GDPT tại trường hiện nay đó là: Mở rộng khuôn viên trường; Xây dựng nhà đa năng, các phòng học bộ môn; Xây dựng bể bơi; sân Bóng Chuyền, Bóng rổ; Bóng Bàn… để học sinh học Thể dục, tham gia Thể dục thể thao. Thực chất nhiều trường học hiện nay cơ sở vật chất không đủ điều kiện đáp ứng mục tiêu CT GDPT mới.
    + Cần có Kế hoạch khảo sát thực tế về cơ sở vật chất phục vụ cho điều kiện dạy học chương trình giáo dục phổ thông mới tại các cơ sở giáo dục ở các vùng miền khác nhau trước khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới;
    + Từ đó, xây dựng Kế hoạch cụ thể về đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị trường học và các điều kiện phục vụ cho dạy học trước và trong quá trình thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới ở tất cả các cơ sở giáo dục.

    4.Quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?

    - Thực chất mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội như hiện nay chưa tiếp cận được với yếu tố thị trường. Bản chất nền giáo dục của nước ta vẫn là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, vì vậy khi xác định sản phẩm của quá trình đào tạo là “hàng hóa” thì người khách hàng phải được lựa chọn nơi học tập, ngược lại đơn vị tổ chức quá trình học tập phải xác lập giá trị cần thiết cho mỗi sản phẩm.
    - Các chính sách nhân đạo đối với người học chỉ áp dụng đúng đối tượng. Các đối tượng còn lại phải thực hiện theo quy luật thị trường. Ngoài các hỗ trợ về học phí, cơ sở vật chất thì hiện nay các thiết bị, sách giáo khoa… đang được trợ giá sẽ làm tăng gánh nặng xã hội lên giáo dục.
    - Quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cũng cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện CT GDPT mới. Hiện nay mới chỉ có quy định đối với nhà trường về việc phối hợp với gia đình và xã hội, không có quy định đối với các cơ quan, tổ chức chính trị, xã hội về việc phải phối hợp với nhà trường trong công tác giáo dục. Vì vậy, công tác phối hợp của nhà trường mang tính đơn phương, một chiều, gặp rất nhiều khó khăn. Cụ thể, Bộ Giáo dục Đào tạo cần tham mưu với Nhà nước có văn bản quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức chính trị, xã hội về việc phối hợp, tạo điều kiện, giúp đỡ các nhà trường trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục.

    5.Đối với trường tiểu học, dự thảo CT tổng thể nêu: “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2buổi/ngàycần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 - 2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022 - 2023 dạy học 2 buổi/ngày chotất cả các lớp tiểu học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?

    Đã hợp lí

    6.Ở lớp 11 và lớp 12, việc đề xuất các trường xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc tự chọn (để học sinh tự chọn 3 môn từ các tổ hợp này) nhằm đáp ứng nhu cầu của người học đồng thời phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?

    Ở lớp 11 và lớp 12, việc đề xuất các trường xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc tự chọn (để học sinh tự chọn 3 môn từ các tổ hợp này) nhằm đáp ứng nhu cầu của người học đồng thời phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường cơ bản đã hợp lý. Tuy nhiên nhà trường gặp phải khó khăn đội ngũ giáo viên không đồng đều cho các môn học khi học sinh lựa chọn môn học tự chọn.


    7.Những môn học, hoạt động giáo dục nào trong dự thảo CT tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác hiện nay?
    - Các môn khó thực hiện trong điều kiện cơ sở vật chất như hiện nay là Khoa học máy tính, Thiết kế công nghệ , Mỹ thuật, Âm nhạc … Môn học giáo dục thể chất dự thảo CT tổng thể cũng khó thực hiện trong điều kiện của các nhà trường hiện nay: Vì các nhà trường chưa có nhà tập đa năng, bể bơi,… Môn tiếng dân tộc, Âm nhạc và Môn Giáo dục kinh tế và pháp luật nhà trường chưa có giáo viên được đào tạo chuyên ngành nên khó thực hiện.Nguyên nhân cơ bản là do cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên.
    - Hoạt động khó khăn khi thực hiện: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo do thiếu kinh phí tổ chức, nguồn nhân lực…Đây là nội dung dễ phát sinh nhiều vấn đề khó khăn cho nhà trường, học sinh, phụ huynh, nên cần nghiên cứu nhiều chiều để đưa ra phương án thực sự hợp lý.
    - Các môn tự chọn trong nhà trường có thể “vỡ trận” khi có quá nhiều học sinh đăng ký một môn tự chọn nào đó. Số giáo viên để giảng dạy các môn tự chọn học sinh tham gia nhiều sẽ thiếu, ngược lại các giáo viên có ít học sinh chọn học sẽ dư thừa, từ đó tạo áp lực cho người quản lí khi phân công lao động.
    - Hiện nay việc các Sở GD&ĐT tiến hành tập huấn cho đội ngũ giáo viên về dạy học tích hợp đã được thực hiện ở tất cả các tỉnh, tuy nhiên trong tư duy của phần lớn giáo viên vẫn đang là tích hợp cơ học (lắp ghép nội dung trùng lặp). Mặt khác các trường Sư phạm trong cả nước chưa đào tạo được một giáo viên nào có thể tham gia giảng dạy ở nhiều lĩnh vực khoa học (trừ giáo viên ở bậc học mầm non và tiểu học).

    8.Để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo CT tổng thể có cần cải thiện cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường Thầy (Cô) đang công tác không? Nếu cần thì nên thực hiện các biện pháp nào?

    - Yếu tố con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại của sự đổi mới chương trình, tuy nhiên để thực hiện được thành công quá trình đổi mới thì cơ sở vật chất hiện đại, phù hợp với nội dung giáo dục là rất cần thiết.
    - Biện pháp để tăng cường cơ sở vật chất ngoài ngân sách nhà nước cấp thì việc thực hiện xã hội hóa là cần thiết. Tuy nhiên để đạt hiệu quả thì các cơ sở giáo dục nên được tự chủ về tài chính có sự giám sát của cơ quan quản lí nhà nước. Các nguồn xã hội hóa được phép huy động, sử dụng khi được đồng thuận kể cả của cha mẹ học sinh. Các cơ sở giáo dục phải công khai minh bạch về đội ngũ, chất lượng, cơ sở vật chất, tài chính (thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ ở cơ sở).

    - Trong những năm gần đây mặc dù cơ sở vật chất các nhà trường được củng cố tuy nhiên để đáp ứng được việc dạy và hoạt động học như trong dự thảo CT thiết nghĩ cần được bổ sung các trang thiết bị. Việc cải thiện cơ sở vật chất là điều không khó đối với các nhà trường đóng trên các địa bàn trung tâm nhưng lại là điều xa vời đối với các trường vùng sâu, xa, vùng khó khăn.
    - Cần đầu tư của Nhà nước, địa phương về phòng học; phòng bộ môn; thiết bị đồ dùng dạy học; khu sân chơi bãi tập, nhà đa năng; vườn, xưởng thực nghiệm (đối với THCS và THPT) hoặc khu trải nghiệm sáng tạo; kinh phí dành cho việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm, Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học. Mở rộng khuôn viên nhà trường để đảm bảo bố trí các khu sân chơi bãi tập và thực hiện hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường.
    - Cần có một văn bản (Thông tư liên ngành – Giáo dục, Tài chính, y tế,) quy định riêng về Cơ sở vật chất trường học cho một trường phổ thông (THCS và THPT). Thông tư quy định rõ về: Số lượng (mức tối thiểu) các loại phòng trong trường học (Khu điều hành, phòng học văn hóa, phòng học bộ môn, phòng hành chính quản trị, v.v; Ví dụ: Đối với trường THCS có nên đưa Nhà tập đa năng vào yêu cầu CSVC hay không. Quy cách từng loại phòng về diện tích, các điều kiện khác phục vụ hoạt động dạy và học cho từng vùng (Thành thị, nông thôn đồng bằng, vùng miền núi,…)

    III.NỘI DUNG KHÁC

    - Bộ GD&ĐT cần đổi mới khâu đào tạo giáo viên trong các trường sư phạm: có lộ trình đào tạo, bổ sung chuyên ngành, đổi mới nội dung giáo trình, mục tiêu, phương pháp đào tạo giáo viên trong các trường sư phạm. Việc làm này cần phải đi trước tránh tình trạng khi sinh viên ra trường không đúng chuyên ngành để tuyển dụng hoặc không đủ chuyên môn, phương pháp để dạy chương trình mới.
    - Việc bồi dưỡng cho GV gặp nhiều khó khăn khi thực hiện chương trình mới:Bởi khi thực hiện triển khai chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, khâu quan trọng nhất để thực hiện thành công là phải đào tạo được đội ngũ giáo viên mới đáp ứng được yêu cầu dạy học và kiểm tra đánh giá theo mục tiêu phát triển những năng lực cốt yếu của người học mà chương trình đã đặt ra. Nếu chưa làm được điều này mà đã vội vàng triển khai sẽ gặp nhiều khó khăn vì chương trình thay đổi lần nay là toàn bộ các cấp học từ sách giáo khoa, phương pháp dạy của giáo viên và cách học của học sinh. Nếu tập huấn giáo viên như những lần thay sách trước thì hiệu quả không cao.

    - Việc biên chế giáo viên đảm bảo dạy đủ các môn học và các hoạt động, đặc biệt là các môn học tự chọn cho các trường tiểu học sẽ gặp nhiều khó khăn bởi học sinh được chọn nội dung học dẫn đến lực lượng giáo viên chuyên của các trường thiếu, hoặc không cân đối giữa các năm học, tỷ lệ 1,5 giáo viên/lớp không đảm bảo.
    - Việc học sinh có thể lựa chọn các môn học phù hợp với sở thích, năng khiếu, sở trường của cá nhân là rất tốt nhưng điều kiện cơ sở vật chất của các trường tiểu học, THCS trong điều kiện hiện nay chưa thể đáp ứng được (diện tích, phòng học, trang thiết bị…) đặc biệt đối với vùng kinh tế khó khăn, địa phương khó có thể đáp ứng được yêu cầu.
    - Để việc thực hiện CT GDPT mới, số tiết dạy trên tuần của một giáo viên giảm xuống 15 tiết/tuần để giáo viên có nhiều thời gian hơn cho việc nghiên cứu các chương trình chuyên sâu, xây dựng các chuyên đề dạy học và nghiên cứu khoa học.
    - Một số ý kiến về việc triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông tổng thể: Giảm tải những kiến thức hàn lâm bắt mọi học sinh phải biết, tăng bài tập thực hành theo nhóm phẩm chất, năng lực người học, tránh áp đặt máy móc; Bộ cần có chế tài kiểm tra việc học sinh có thực sự được học môn tự chọn theo sở trường, nguyện vọng không, nhằm tránh tình trạng hình thức tự chọn môn học nhưng bản chất là học sinh bị cơ sở giáo dục ép buộc vì những lí do không chính đáng; Về lâu dài, cần cải tiến hình thức thi tuyển, xét tuyển đầu vào của trường đại học sư phạm. Ngoài hình thức thi tuyển, xét tuyển như hiện nay, cần căn cứ vào bài thi năng lực thực hành, nhằm tuyển chọn được những học sinh có tố chất sư phạm, có năng lực, năng khiếu chuyên biệt nào đó để đáp ứng lâu dài cho công cuộc đổi mới giáo dục.


    Trên đây là báo cáo tổng hợp ý kiến góp ý cho dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Sở Giáo dục và Đào tạo Ninh Bình./.

Ủng hộ bài viết này