Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Thực hiện Văn bản số 1677/BGDĐT-GDTrH ngày 25/4/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) về việc góp ý Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Sở GD&ĐT Phú Thọ báo cáo như sau:
    Sở GD&ĐT đã tuyên truyền sâu rộng và chỉ đạo các phòng GD&ĐT, các cơ sở giáo dục phổ thông, cán bộ công chức, viên chức trong toàn ngành nghiên cứu, tổ chức hội thảo cấp cơ sở, tổng hợp báo cáo góp ý (bằng văn bản) về Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.
    Ngày 10/5/2017, Sở GD&ĐT tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Thành phần gồm Lãnh đạo Sở; Lãnh đạo, chuyên viên phòng: Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Trung học; Đại diện lãnh đạo các phòng thuộc Sở; Một số đồng chí cán bộ, giáo viên về hưu; Lãnh đạo, chuyên viên các phòng GD&ĐT huyện, thành, thị; đại diện cán bộ quản lý, giáo viên các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn toàn tỉnh.
    Hầu hết các ý kiến đều nhất trí cao với Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, đồng thời có một số ý kiến băn khoăn, đóng góp đề nghị Ban Phát triển Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể xem xét (Nội dung đính kèm).
    Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ trân trọng báo cáo!
    So với Chương trình giáo dục phổ thông đã ban hành kèm theo Quyết định số 16/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT và bản Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã công bố lần 1 (8/2015), Bản Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể lần này đã có rất nhiều thay đổi tích cực, thể hiện sự tâm huyết, công phu của Ban phát triển chương trình, đã tiếp thu có chọn lọc các ý kiến của của các chuyên gia, nhà giáo và toàn xã hội về chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Qua đó, thấy rõ những ưu điểm nổi bật của Chương trình như sau:
    Thứ nhất: Chương trình được xây dựng trên quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI;Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc Hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, đảm bảo mục tiêu “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”.
    Thứ hai: Ban soạn thảo chương trình đã áp dụng phương pháp “Sơ đồ ngược” và có đánh giá tác động của chính sách. Việc xây dựng chương trình đã xuất phát từ phân tích bối cảnh trong nước và quốc tế, trên cơ sở đó xác định nhu cầu phát triển đất nước, nhu cầu phát triển nhân lực, mục tiêu giáo dục phổ thông, rồi từ mục tiêu đó xác định những phẩm chất và năng lực cần hình thành, phát triển ở học sinh, tức là chuẩn đầu ra của chương trình. Từ chuẩn đầu ra mới xác định được những nội dung cần dạy, từ đó phân bổ thời lượng dạy học, xác định phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục. Đây là quy trình rất hợp lý, khoa học, tạo cơ sở để xây dựng chương trình giáo dục phổ thông đáp ứng các yêu cầu đặt ra.
    Thứ ba: Chương trình đã xác định 6 phẩm chất chủ yếu và 10 năng lực cốt lõi cần hình thành, phát triển cho học sinh. Đó là mục tiêu cụ thể của chương trình, đồng thời cũng là “chân dung” của con người Việt Nam mới, là sự tiếp nối truyền thống xây dựng con người toàn diện có đức có tài, vừa hồng vừa chuyên, giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực của người lao động, ý thức và nhân cách công dân; khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời; khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động; khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.
    Thứ tư: Lần đầu tiên chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng gồm hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, tạo điều kiện để phân luồng học sinh (nhất là sau giai đoạn giáo dục cơ bản). Đặc biệt Chương trình hướng tới người học, vì sự phát triển của cá nhân, do vậy có nhiều môn học và hoạt động giáo dục khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của người học như: Các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và tự chọn bắt buộc, hoạt động trải nghiệm sáng tạo, hoạt động nghệ thuật, chuyên đề học tập là điểm nhấn của chương trình mới nhằm phù hợp với điều kiện của địa phương, nhà trường và nguyện vọng của học sinh.
    Thứ năm: Chương trình đã đảm bảo tính tích hợp và phân hóa cao (thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, tích hợp ở các cấp Tiểu học và trung học cơ sở, thực hiện giáo dục phân hóa mạnh ở cấp trung học phổ thông. Chương trình chú trọng đến việc trang bị cho học sinh kỹ năng thực hành, kỹ năng vận dụng, kỹ năng thích ứng với những thay đổi; định hướng nghề nghiệp cho học sinh bằng những môn học và hoạt động giáo dục cụ thể. Ưu điểm thấy rõ trong Dự thảo là đảm bảo tính liên thông, xuyên suốt giữa tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông; giảm được số môn học bắt buộc nhất là ở chương trình lớp 11 và 12, học sinh được chọn môn học phù hợp với định hướng nghề nghiệp, đáp ứng mục tiêu là kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp, nhằm phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực học sinh.
    Thứ sáu: Chương trình có tính mở, theo hướng trao quyền chủ động cho các địa phương, nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền, các tổ chức đoàn thể và xã hội, đồng thời phát huy tích chủ động sáng tạo của giáo viên trong dạy học. Đặc biệt là hướng phát triển chương trình trong quá trình thực hiện, sẽ có đánh giá, sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện chương trình cho phù hợp với thực tiễn.
    I. MỘT SỐ NỘI DUNG CỤ THỂ TRONG DỰ THẢO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TỔNG THỂ
    1. Những vấn đề chung
    1.1. Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại Luật Giáo dục hiện hành, Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của BCH TW Đảng tại Hội nghị BCH TW lần thứ Tám, Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội, Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông: Trong Dự thảo (phần Quan điểm) đã nêu đầy đủ các cơ sở, căn cứ để xây dựng Chương trình “Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; gắn với nhu cầu phát triển của đất nước và những tiến bộ của thời đại về khoa học - công nghệ; phù hợp với đặc điểm con người, văn hóa Việt Nam, các giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị chung của nhân loại cũng như các sáng kiến và định hướng phát triển chung của UNESCO về giáo dục; tạo cơ hội bình đẳng về quyền được bảo vệ, chăm sóc, học tập và phát triển, quyền được lắng nghe, tôn trọng và được tham gia của học sinh; đặt nền tảng cho một xã hội nhân văn, phát triển bền vững và phồn vinh”.
    1.2. Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã tiếp cận và chọn lọc xu hướng phát triển chương trình giáo dục phổ thông của các nước tiên tiến trên thế giới như: Chương trình tú tài quốc tế (IB), chương trình của các quốc gia: Anh, Australia, Đức, Pháp, Mỹ, Malaysia, Trung Quốc... về những môn học bắt buộc, môn học tự chọn, các hoạt động giáo dục và tiếp thu chọn lọc những thành tố của chương trình giáo dục phổ thông tiên tiến để cụ thể hóa trong chương trình cơ bản phù hợp với điều kiện Việt Nam. Các năng lực cốt lõi cũng được xác định trong nhiều chương trình và tài liệu giáo dục nước ngoài, đặc biệt là các tài liệu Xác định và lựa chọn các năng lực cốt lõi của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế) năm 2005, Các năng lực cốt lõi để học tập suốt đời – Khung tham chiếu châu Âu của EU (Liên minh Châu Âu) năm 2006 và Tầm nhìn mới về giáo dục – Mở khóa tiềm năng về công nghệ của WEF (Diễn đàn Kinh tế Thế giới) năm 2015...vv
    1.3. Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã kế thừa và phát huy tối đa các thành tố, nội dung tích cực các chương trình giáo dục phổ thông đã có của Việt Nam. Đồng thời chương trình mới từng bước khắc phục những hạn chế của nền giáo dục phổ thông nước ta hiện tại (đã được Nghị quyết số 29- NQ/TW chỉ ra). Bản Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông mới đã kế thừa về cấu trúc, nội dung, các thành tố cấu thành chương trình. Thể hiện rõ trong quan điểm xây dựng chương trình, mục tiêu, kế hoạch giáo dục, định hướng phương pháp giáo dục và kiểm tra đánh giá... (Đã quán triệt đầy đủ cácNghị quyết của Đảng, Nhà nước, Luật Giáo dục hiện hành).
    - Trong chương trình giáo dục phổ thông mới tiếp tục hướng đến mục tiêu giáo dục toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng mỗi cá nhân; tiếp tục phát triển quan điểm dạy học phân hóa của giai đoạn trước và chuyển sang giai đoạn phân hóa bằng dạy học tự chọn (giai đoạn trước thực hiện dạy học phân hóa bằng phân ban và kết hợp với dạy học tự chọn). Một số môn và hoạt động giáo dục có tên mới nhưng không quá xa lạ với giáo viên, học sinh.
    - Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo triển khai hàng loạt những nội dung giáo dục phổ thông mới nhằm đẩy mạnh các hoạt động và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện theo tinh thần đổi mới như: Dạy học tích hợp, liên môn; hoạt động nghiên cứu khoa học, kỹ thuật dành cho học sinh trung học; triển khai trường học kết nối; triển khai các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực; định hướng tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh; mô hình trường học VNEN ở tiểu học, trường học mới trung học cơ sở; đánh giá xếp loại học sinh Tiểu học; đổi mới tổ chức kỳ thi THPT quốc gia...Những nội dung này đã góp phần đổi mới hình thức, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, phát huy vai trò tự giác, chủ động, tích cực hướng tới phẩm chất, năng lực của học sinh theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW, đồng thời có tính chuyển tiếp, khởi động, chuẩn bị cho chương trình giáo dục phổ thông mới.
    1.4. Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể cơ bản phù hợp với truyền thống văn hóa con người Việt Nam, lại có những nét hiện đại, tiên tiến; đó là những phẩm chất tốt đẹp để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có văn hóa, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới. Căn cứ để xác định các phẩm chất chủ yếu là những đức tính của người Việt Nam được nêu ra trong các nghị quyết của Đảng về xây dựng văn hoá, con người Việt Nam (Nghị quyết 5/ TW khóa VIII (1998) Nghị quyết 33/ TW khóa XI (2014) đặc biệt là Năm điều Bác Hồ dạy và yêu cầu giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh hiện nay.
    - Ban phát triển chương trình có thể xem xét thêm về phẩm chất “chăm học, chăm làm” để thay thế phẩm chất “yêu lao động, cần kiệm”, như vậy ta có 6 phẩm chất: Yêu đất nước, yêu con người, yêu lao động, cần kiệm, trung thực, trách nhiệm.
    - Theo Dự thảo, các yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi là căn cứ để xây dựng chương trình môn học; biên soạn sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn tổ chức dạy học; đánh giá kết quả giáo dục học sinh và chất lượng giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, nhìn tổng thể vào chi tiết những phẩm chất và năng lực cần đạt được của học sinh đặt ra trong dự thảo vẫn còn những điểm cần được làm rõ thêm như: Sự kết nối chặt chẽ giữa phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi với từng môn, sự liên thông liền mạch biểu hiện phẩm chất và năng lực của học sinh giữa các cấp học, ví dụ:
    + Về phẩm chất “yêu đất nước”: Trong Dự thảo nói về những biểu hiện của phẩm chất yêu đất nước của học sinh tiểu học là yêu quê hương, đối với học sinh THPT là yêu đất nước một cách chung chung mà không nói rõ yêu cầu cần đạt như là thế nào (Trang 32, mục phẩm chất 1. Yêu đất nước: cấp tiểu học và THPT).
    + Về phẩm chất “chăm học”, đối với cấp tiểu học: Đi học đúng giờ, thích đọc sách báo để mở rộng hiểu biết; đối với cấp THCS: Thích đọc sách, báo, tìm tư liệu trên mạng internet để mở rộng hiểu biết (Trang 33, mục phẩm chất 3. Chăm học).
    + Dự thảo đã đặt ra những yêu cầu về phẩm chất quan trọng đối với học sinh như trung thực, trách nhiệm... nhưng cần nhấn mạnh tới tính kỷ luật và khiêm tốn. Vì kỷ luật và khiêm tốn là đức tính rất cần có ở con người, đặc biệt đối với học sinh đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nhân cách.
    1.5. Các năng lực chung (3 năng lực), năng lực chuyên môn (7 năng lực) cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã phù hợp, đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu của con người mới để hội nhập và phát triển. Xuất phát từ những căn cứ trong nhiều chương trình và tài liệu giáo dục nước ngoài, đặc biệt là các tài liệu Xác định và lựa chọn các năng lực cốt lõi của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế) năm 2005, Các năng lực cốt lõi để học tập suốt đời – Khung tham chiếu châu Âu của EU (Liên minh Châu Âu) năm 2006 và Tầm nhìn mới về giáo dục – Mở khóa tiềm năng về công nghệ của WEF (Diễn đàn Kinh tế Thế giới) năm 2015….và tình hình bối cảnh trong nước và quốc tế, nhu cầu phát triển đất nước, nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, mục tiêu giáo dục phổ thông.
    1.6. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể cơ bản đã phù hợp với từng lứa tuổi, bậc học, có tính liên tục và phát triển. Tuy nhiên, cần định hướng cụ thể những biểu hiện phẩm chất, năng lực đó khi biên soạn chương trình môn học và sách giáo khoa của từng bậc học để thuận lợi cho giáo viên tổ chức các hoạt động học và kiểm tra đánh giá, xếp loại cho học sinh.
    2. Kế hoạch giáo dục
    2.1. Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của chương trình giáo dục phổ thông được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” cơ bản đã hợp lý. Tuy nhiên, bổ sung “Hoạt động giáo dục” vì “Chương trình giáo dục phổ thông được chia thành các môn học (môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn) và hoạt động giáo dục. Hơn nữa, bản chất của Hoạt động Nghệ thuật và Hoạt động trải nghiệm sáng tạo không phải là môn học.
    2.2. Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể nêu: “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của CT GDPT tương đương với 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương” như vậy là hợp lí. Tuy nhiên, đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép các cơ sở giáo dục phổ thông dựa trên chương trình tổng thể, nội dung và yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông, để chủ động xây dựng kế hoạch giáo dục riêng một cách linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của địa phương, nhà trường và đối tượng học sinh trong khung kế hoạch, thời gian năm học.
    2.3. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã cơ bản phù hợp. Việc dạy học tích hợp mạnh ở các lớp dưới, phân hóa dần ở các lớp trên phù hợp với quá trình nhận thức của học sinh, theo đúng yêu cầu của Nghị quyết 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc Hội. Tuy nhiên, riêng môn “Thế giới công nghệ” nên đưa vào lớp 3 như nội dung tiếp thu, giải trình và đề nghị của của Ban Phát triển Chương trình là hợp lí (không nên đưa vào lớp 1, lớp 2 vì chưa đủ điều kiện thực hiện).
    2.4. Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học cơ bản ngắn gọn, gần gũi và dễ nhớ phù hợp với tâm lí, lứa tuổi học sinh, thể hiện được các nội dung đáp ứng mục tiêu của chương trình, sự liên thông và định hướng nghề nghiệp. Tuy nhiên, đối với bậc Tiểu học, nếu môn “Thế giới Công nghệ” thực hiện từ lớp 3 thì khi đó đổi tên là môn “Tìm hiểu Tin học” để thực hiện liên tục lên lớp 4, lớp 5 (Ghép tên môn “Thế giới Công nghệ” với “Tìm hiểu Tin học”). Ở THCS môn Nghệ thuật đổi tên là Hoạt động nghệ thuật (cho đồng nhất như tên gọi ở lớp 10, vì nội hàm của chúng cũng tương tự). Như vậy, Hoạt động Nghệ thuật và Hoạt động trải nghiệm sáng tạo giữ nguyên tên gọi là hoạt động như bản chất của nó (chứ không gọi là môn), khi đó trong chương trình ta có môn học và hoạt động giáo dục.
    2.5. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học về cơ bản phù hợp, tuy nhiên cần điều chỉnh thời lượng một số môn, hoạt động giáo dục, cụ thể:
    - Chương trình ở Tiểu học: Môn Toán lớp 5 có 210 tiết/năm học là nặng đề xuất theo2 phương án sau (Phương án 1: Đưa xuống lớp 1 thêm 35 tiết thành 140 tiết toán/năm học để toàn cấp tiểu học vẫn đủ 840 tiết toán như chương trình hiện hành vì lớp 1 đề xuất bỏ môn Thế giới công nghệ. Phương án 2: Giảm xuống còn 175 tiết như lớp 4 để tổng tiết toán ở tiểu học còn 805 tiết/ toàn cấp). Nếu những trường chưa đủ điều kiện để dạy học 2 buổi/ ngày thì đề nghị Bộ GD&ĐT gợi ý phương án thực hiện khả thi, vì thời lượng tiết học các khối lớp như vậy (31-32 tiết) không thể thực hiện hết trong tuần nếu học 1 buổi/ngày).
    - Chương trình THCS, THPT số tiết học từ 27-30 tiết/ tuần, như vậy là khá cao, riêng các buổi học của lớp 10 đều 5 tiết. Đề nghị không để số tiết lẻ (52,5) để tiện cho việc bố trí thời khóa biểu và kế hoạch dạy học, đồng thời giảm số tiết ở THCS và THPT, cụ thể như sau:
    + Đối với THCS: Lớp 6 (môn Tin học giảm từ 52,5 còn 35 tiết, môn Công nghệ và Hướng nghiệp giảm từ 52,5 còn 35 tiết, giảm các môn học tự chọn và nội dung giáo dục địa phương từ 58 tiết còn 56 tiết. Như vậy, tổng số giảm được 37 tiết còn lại 1036 tiết/ 37 tuần, trung bình 28 tiết/ tuần); Lớp 7 (môn Tin học giảm từ 52,5 còn 35 tiết, môn Công nghệ và Hướng nghiệp giảm từ 52,5 còn 35 tiết, giảm các môn học tự chọn và nội dung giáo dục địa phương từ 58 tiết còn 56 tiết. Như vậy, tổng số giảm được 37 tiết còn lại 1036 tiết/ 37 tuần, trung bình 28 tiết/ tuần); Lớp 8 (môn Giáo dục công dân giảm từ 52,5 còn 35 tiết, môn Tin học giảm từ 52,5 còn 35 tiết, giảm các môn học tự chọn và nội dung giáo dục địa phương từ 60 tiết còn 58 tiết. Như vậy, tổng số giảm được 37 tiết còn lại 1073 tiết/ 37 tuần, trung bình 29 tiết/ tuần); Lớp 9 (môn Giáo dục công dân giảm từ 52,5 còn 35 tiết, môn Tin học tăng từ 52,5 lên 70 tiết, giảm môn Nghệ thuật từ 70 tiết còn 35 tiết, giảm các môn học tự chọn và nội dung giáo dục địa phương từ 60 tiết còn 58 tiết. Như vậy, tổng số giảm được 37 tiết còn lại 1073 tiết/ 37 tuần, trung bình 29 tiết/ tuần);
    + Đối với THPT: Lớp 10 (Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tăng từ 70 lên 105 tiết thì mới có thời lượng cho chào cờ, sinh hoạt lớp, và tổ chức các hoạt động giáo dục, môn Tin học giảm từ 52,5 còn 35 tiết, môn Kinh tế và Pháp luật giảm từ 70 còn 35 tiết, môn Thiết kế và Công nghệ giảm từ 70 còn 35 tiết, giảm các môn học tự chọn và nội dung giáo dục địa phương từ 60 tiết còn 58 tiết. Như vậy, tổng số giảm được 37 tiết còn lại 1073 tiết/ 37 tuần, trung bình 29 tiết/ tuần).
    - Ngoài ra, khi viết chương trình môn học và sách giáo khoa cần giảm tính hàn lâm, nặng kiến thức, nên trang bị những kiến thức phổ thông (phổ biến, thông dụng) thật cơ bản, nền tảng, tăng tính thực hành, vận dụng vào thực tiễn lao động, sản xuất và học tập, đồng thời tăng kênh hình, cập nhật số liệu minh họa...Chương trình bộ môn chỉ nâng cao dần, phù hợp đối với các môn tự chọn bắt buộc ở lớp 11, 12 (vì khi đó học sinh đã lựa chọn bộ môn theo định hướng nghề nghiệp).
    2.6. Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể nêu: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy học nội dung giáo dục của địa phương” như vậy là hợp lí. Tuy nhiên, cần phối hợp với cha mẹ học sinh để giao thêm nhiệm vụ cho học sinh tự học ở nhà và tìm hiểu về nội dung giáo dục của địa phương”.
    2.7. Việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo chương trình tổng thể) phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường có ưu điểm và những khó khăn như sau:
    - Ưu điểm: Thể hiện rõ tính nhân văn, hướng đến nhu cầu của người học, vì người học; đáp ứng yêu cầu của dạy học phân hóa, giúp học sinh định hướng, lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai.
    - Khó khăn: Chắc chắn dẫn đến tình trạng có môn học được học sinh chọn nhiều, có môn học được học sinh chọn ít, và cũng có thể năm lớp 11 học sinh chọn môn này, sang lớp 12 lại chọn môn khác. Sự lựa chọn như vậy sẽ ảnh hưởng lớn đến việc phân công giảng dạy và bố mặt bằng lao động cho giáo viên (Có giáo viên sẽ phải giảng dạy nhiều do lượng học sinh đăng ký nhiều, thậm trí không đủ giáo viên, có giáo viên giảng dạy rất ít hoặc không phải lên lớp do học sinh đăng ký ít và không đăng ký, khi đó bố trí cho họ làm gì?). Để đáp ứng nhu cầu chọn môn học nhiều của học sinh thì biên chế giáo viên sẽ tăng lên nhiều (ở một số môn), trong khi đó hiện nay đang thực hiện “tinh giản biên chế”, mà số giáo viên thừa (không có lớp dạy) cũng không có lí do để tinh giảm biên chế họ. Chưa kể đến môn học Âm nhạc, Mỹ thuật hiện tại chưa có biên chế giáo viên ở THPT (hoặc bồi dưỡng giáo viên để dạy môn Khoa học máy tính, Giáo dục kinh tế và Pháp luật, Thiết kế và Công nghệ...để dạy hiệu quả cũng là một khó khăn), nếu học sinh có lựa chọn những môn đó nhưng số lượng không nhiều thì bố trí dạy học sẽ khó khăn. Hơn nữa, khi số môn lựa chọn khác nhau thì việc biên chế lớp, tổ chức và quản lí học sinh sẽ bị đảo lộn, phức tạp. Nếu không đáp ứng được điều kiện đó thì việc lựa chọn theo định hướng nghề nghiệp của học sinh không khả thi, vẫn phải theo điều kiện hiện có của nhà trường, không đáp ứng được nguyện vọng của học sinh và mục tiêu phân hóa.
    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể nêu: “Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GD&ĐT được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông”. Đây là điểm mới, phù hợp với tương lai nhưng trước mắt còn khó khăn vì điều kiện ở mỗi nhà trường và năng lực của học sinh ở mỗi vùng miền khác nhau.
    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
    1. Quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông: Ở Tiểu học, không quá 30 học sinh/lớp; Ở THCS và THPT có không quá 40 học sinh; Số học sinh trong mỗi lớp của trường chuyên biệt được quy định trong quy chế tổ chức và hoạt động của trường chuyên biệt, để thuận tiện cho việc tổ chức các hoạt động học cho học sinh theo tinh thần đổi mới hình thức, phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực.
    2. Quy định hiện hành về số lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông cần thay đổi theo hướng tăng tỷ lệ giáo viên/ lớp, nhất là ở tiểu học, cụ thể: Ở tiểu học cần tối thiểu tỷ lệ 1,7 giáo viên/ lớp và đủ về cơ cấu bộ môn; Ở trung học cơ sở cần tối thiểu tỷ lệ 2,0 giáo viên/ lớp và đủ về cơ cấu bộ môn và hoạt động giáo dục. Ở trung học phổ thông cần tối thiểu tỷ lệ 2,3 giáo viên/ lớp, đủ về cơ cấu giáo viên bộ môn và hoạt động giáo dục.
    3. Quy định hiện hành về cơ sở vật chất trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới, cụ thể: Ở Tiểu học cần bổ sung phòng học máy vi tính (dạy môn Tìm hiểu Tin học) phòng học Ngoại ngữ. Ở Trung học cơ sở cần bổ sung phòng học máy vi tính (dạy môn Tin học – vì hiện tại một số trường không có do môn Tin học là môn tự chọn). Ở Trung học phổ thông cần bổ sung học học Nghệ thuật (phục vụ môn Âm nhạc, Mỹ thuật). Các bậc học đều cần bổ sung thiết bị đồ dùng dạy học (ít nhất là tối thiểu), vì hiện tại thiết bị đồ dùng dạy học được trang bị năm 2003, 2009 đã hư hỏng nhiều và lạc hậu.
    4. Quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội về cơ bản phù hợp với việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới. Tuy nhiên, cần thay đổi theo hướng mở cho các cơ sở giáo dục, thu hút sự vào cuộc của cộng đồng, xã hội, giảm bớt quy trình thủ tục, quy định thực hiện tại: Thông tư số 09/2009/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 5 năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân; thông tư số 29/2012/TT-BGDĐT ngày 10 tháng 9 năm 2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tài trợ cho các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; thông tư số 55/2011/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 11 năm 2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh.
    5. Đối với trường tiểu học, dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể nêu: “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2buổi/ngàycần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 - 2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022 - 2023 dạy học 2 buổi/ngày chotất cả các lớp tiểu học”, nội dung này là phù hợp để các địa phương có thời gian chuẩn bị các điều kiện dạy 2 buổi/ngày.
    6. Ở lớp 11 và lớp 12, việc đề xuất các trường xây dựng các tổ hợp môn học tự chọn bắt buộc (để học sinh tự chọn 3 môn từ các tổ hợp này) nhằm đáp ứng nhu cầu của người học, đồng thời phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường. Như vậy, thì sẽ khả thi khi tổ chức thực hiện vì “phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường” nhưng lại không đáp ứng được sự phân hóa và nguyện vọng, sự lựa chọn theo định hướng nghề nghiệp của học sinh (Như đã nêu bất cập ở mục 2.7 trong báo cáo này).
    7. Một số môn học, hoạt động giáo dục trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường hiện nay, như: Ở Tiểu học (Thế giới công nghệ, Tìm hiểu Tin học, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, tiếng dân tộc thiểu số). Ở trung học cơ sở (Khoa học tự nhiên, Công nghệ và Hướng nghiệp, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Tiếng dân tộc thiểu số). Ở trung học phổ thông (Giáo dục kinh tế và Pháp luật, Công nghệ và Hướng nghiệp, Âm nhạc; Mỹ thuật; Khoa học máy tính; Thiết kế và Công nghệ, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Tiếng dân tộc thiểu số).
    8. Để đáp ứng yêu cầu của Chương trình mới, các cơ sở giáo dục phổ thông cần được đầu tư xây dựng, nâng cấp, sửa chữa trường, lớp, mua sắm thiết bị, đồ dùng dạy học (thậm chí bổ sung, cải tạo phòng bộ môn, xây phòng học Âm nhạc, Mỹ thuật) cho phù hợp. Vấn đề là dù đổi mới chương trình hay không thì cũng phải trang bị cơ sở vật chất đảm cho việc bảo dạy và học. Tuy nhiên, hiện tại một số cơ sở giáo dục phổ thông cũng chưa đảm bảo điều kiện tối thiểu để dạy và học (trừ những trường đã đạt chuẩn quốc gia).Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tham mưu với Chính Phủ, phối hợp với các bộ, ngành trung ương quan tâm, tập trung huy động các nguồn lực đầu tư,có cơ chế để thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục cho các địa phương, nhà trường (nhất là những địa phương khó khăn) đảm bảo cơ sở vật chất, thiết bị dạy học (ít nhất là tối thiểu) để thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông mới.
    III. CÁC Ý KIẾN KHÁC
    1. Dự thảo (trang 12) cần điều chỉnh: “Kết thúc giai đoạn giáo dục cơ bản, học sinh có thể sử dụng tiếng Việt thành thạo để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống hằng ngày và học tập tốt các môn học khác; học sinh phải đọc đúng, nói đúng có thể đọc, viết, nói và nghe các loại văn bản phổ biến và thiết yếu, gồm văn bản văn học, nghị luận và thông tin; đồng thời qua môn học, học sinh được bồi dưỡng và phát triển về tâm hồn và nhân cách.
    2. Dự thảo (trang 27) cần điều chỉnh:Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm xây dựng, thẩm định nội dung giáo dục văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, môi trường, hướng nghiệp,... của địa phương để đưa vào chương trình và tổ chức thực hiện theo quy định”.
    3. Nội dung giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp cần được thể hiện rõ hơn trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Xuất phát từ nguyên lí “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. Đây là một yêu cầu rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách người học sinh để từng bước hình thành người lao động mới, định hướng nghề nghiệp góp phần phân luồng học sinh, do vậy cần nêu rõ nội dung giáo dục lao động và giáo dục hướng nghiệp được thực hiện thông qua môn học, hoạt động giáo dục nào, định hướng về nội dung và thời lượng trong các môn học và hoạt động giáo dục đó.
    4. Chất lượng giáo dục phổ thông trước hết phụ thuộc vào đội ngũ giáo viên, sự phát triển của giáo dục đòi hỏi trình độ giáo viên ngày càng cao, khi mục tiêu giáo dục chuyển sang phát triển phẩm chất, năng lực đòi hỏi người thầy cũng phải được đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao phẩm chất, năng lực. Mặt khác rất nhiều môn học mới mà chưa có giáo viên, việc bố trí giáo viên đáp ứng yêu cầu học tập phân hóa cao, linh hoạt mà điều này luôn mâu thuẫn với yêu cầu về sự ổn định đội ngũ của từng cơ sở giáo dục theo quy định hiện hành. Do vậy, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý phục vụ việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa (trong đó đội cán bộ quản lí cần thay đổi tư duy) là yêu cầu cấp bách để quản trị nhà trường, vận hành và thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông mới.
    5. Chương trình giáo dục phổ thông mới có nhiều thay đổi, để triển khai thực hiện hiệu quả thì vấn đề đổi mới thể chế quản lý giáo dục là rất quan trọng. Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu ban hành Điều lệ đối với các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; quy chế kiểm tra công nhận, công nhận lại trường học đạt chuẩn quốc gia; các văn bản hướng dẫn về đổi mới việc quản trị nhà trường theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục; tham mưu ban hành các văn bản chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương, các ban ngành, đoàn thể vào cuộc tích cực mới đảm bảo các điều kiện (tài chính, cơ sở vật chất; đội ngũ giáo viên; mối quan hệ nhà trường, gia đình, xã hội) cho việc thực hiện khả thi chương trình giáo dục phổ thông mới.


    6. Đề xuất lộ trình thực hiện: Tiếp theo ý kiến đề nghị của Ban Phát triển Chương trình, xin được đề xuất lộ trình thực hiện từng bước, cụ thể như sau:
    [IMG]
    Lộ trình thực hiện như vậy, vừa đảm bảo theo Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc Hội, vừa có những điều chỉnh chương trình cho phù hợp với thực tiễn, đồng thời có thời gian hợp lí để các địa phương, cơ sở giáo dục phổ thông chuẩn bị những điều kiện cần thiết, tốt nhất đáp ứng yêu cầu thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới./.

    Files được đính kèm:

    • Capture.PNG
      Capture.PNG
      Kích thước File:
      19.2 KB
      Lượt xem:
      222

Ủng hộ bài viết này