Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Công văn số 1496/BGDĐT-VP ngày 12/4/2017 về việc xin ý kiến góp ý dự thảo chương trình, Sở Giáo dục và Đào tạo Thừa Thiên Huế (Sở GDĐT) đã có Công văn 951/SGDĐT-GDTrH yêu cầu các đơn vị trường học tổ chức nghiên cứu, góp ý cho Dự thảo Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể;
    Tiếp theo Công văn số 1496/BGDĐT-VP ngày 12/4/2017, Bộ Giáo dục Đào tạo có Công văn số 1677/BGDĐT-GDTrH ngày 25/4/2017 đề nghị Giám đốc Sở GDĐT tổ chức lấy ý kiến góp ý cho Dự thảo Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể, Sở GDĐT tổ chức Hội nghị góp ý kiến Dự thảo chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể, nay Sở tổng hợp các ý kiến góp ý báo cáo Bộ như sau:

    I. VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG DỰ THẢO CT TỔNG THỂ
    1. Những vấn đề chung
    1.1. Dự thảo CT tổng thể đã thể hiện việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ.
    1.2. Dự thảo CT tổng thể đã tiếp cận xu hướng phát triển CT GDPT của các nước tiên tiến.
    1.3. Dự thảo CT tổng thể kế thừa các CT GDPT đã có của Việt Nam một cách hợp lí. Mục tiêu của Chương trình rất cụ thể ở cả ba cấp Tiểu học, THCS và THPT. Chương trình hướng đến kế thừa và phát triển những ưu điểm các chương trình giáo dục đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm xây dựng chương trình của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Bảo đảm kết nối chặt chẽ giữa các lớp học, cấp học với nhau và liên thông với chương trình giáo dục mầm non, chương trình giáo dục nghề nghiệp và chương trình giáo dục đại học.
    1.4. Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp. Nhưng cần bổ sung các ý sau:
    - Đề nghị bổ sung thêm các giá trị cốt lõi cần đạt như: Lễ phép (Lễ phép, kính yêu cha mẹ; lễ phép, kính trọng thầy cô), tự trọng, danh dự (danh dự cá nhân, danh dự tập thể).
    - Giáo dục lòng nhân ái, tinh thần sống và làm việc theo pháp luật…
    1.5. Các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp. Cần bổ sung thêm năng lực phản biện, óc phê phán.
    1.6. Các năng lực chuyên môn cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp.
    1.7. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp.
    1.8. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo CT tổng thể đã phù hợp.
    2. Kế hoạch giáo dục
    2.1. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” đã hợp lý.
    2.2. Dự thảo CT tổng thể nêu: “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của CT GDPT tương đương với 37 tuần, gồm: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương” đã hợp lý.
    2.3. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã phù hợp. Cần lưu ý ở cấp Tiểu học như sau:
    - Đối với lớp 1,2 đưa môn thế giới công nghệ vào là quá sớm, môn này nên đưa từ lớp 3 như trước đây. Vì lớp 1,2 cần tập trung cho các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết môn tiếng Việt, hơn nữa phòng tin học cấp tiểu học còn hạn chế.
    - Môn Toán lớp 5 có 210 tiết/năm hay 6 tiết/tuần là quá tải so với học sinh. Nên để 175 tiết/năm, học sinh học 5 tiết/tuần là vừa sức và tự học có hướng dẫn môn Toán 5 đề nghị bố trí 70 tiết/năm thay cho 35 tiết/ năm.
    - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo gồm 105 tiết /năm, với 3 tiết/ tuần cần nói rõ hơn không bao gồm tiết chào cờ và sinh hoạt lớp. Như vậy, số tiết/tuần vượt quá 30 tiết. Theo đó, nhiều trường THPT không đáp ứng được vì không đủ phòng học.
    - Số tiết trong dự thảo là dành cho lớp học 2 buổi/ngày (31 tiết/ tuần đối với lớp 1,2,3 và 32 tiết/tuần đối với lớp 4,5) khi lớp không có điều kiện học 2 buổi/ngày thì không thể đáp ứng nổi số tiết/tuần (không tính số tiết tự học có hướng dẫn và nội dung giáo dục địa phương)
    2.4. Tên các môn học và hoạt động giáo dục cần được làm rõ nội hàm, ví dụ: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là tên một môn học hay tên một hoạt động.
    2.5. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đề nghị thay đổi như sau:
    - Thời lượng giáo dục của giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: 30 tiết/tuần là quá nặng, không còn thời gian cho nhà trường triển khai các hoạt động khác. Đề nghị giảm số tiết các môn: Khoa học máy tính; Tin học ứng dụng; Thiết kế và Công nghệ, Vật lý, Hóa học (khối 11,12).
    - Mục tiêu chương trình mới là giúp học sinh có đủ năng lực ngoại ngữ để hội nhập quốc tế, tuy vậy mỗi tuần học sinh được học 3 ngoại ngữ (105 tiết cả năm) là ít, chưa có đủ thời gian giúp học sinh hoàn thiện 4 kĩ năng nói, nghe, đọc, viết.
    - Đối với tiểu học nên chỉ học 35 tuần/ năm là đủ, dành thời gian cho các em vui chơi và tham gia các hoạt động khác, không nên học 37 tuần/năm.
    - Thống nhất lớp 1,2 thời lượng mỗi tiết học từ 30 đến 35 phút nhưng giữa mỗi tiết có nghỉ thư giãn 5 phút để đồng nhất vào tiết và hết tiết cùng với các lớp 3,4,5.
    2.6. Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, không nên phân biệt 2 loại chương trình đối với học sinh học 1 buổi/ngày và 2 buổi/ngày mà cần thống nhất một chương trình cho đối tượng học sinh Tiểu học.
    2.7. Không nên đưa chuyên đề học tập vào chương trình.
    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Ở cấp Tiểu học, hiện nay theo Thông tư 22, giáo viên trực tiếp đứng lớp đánh giá thường xuyên và ra đề kiểm tra đánh giá định kỳ nên chưa có độ đồng đều về chuẩn kiến thức kỹ năng giữa các lớp, trường. Đề xuất với Bộ GD&ĐT có bộ công cụ đánh giá kiểm tra định kỳ các môn học chung cho toàn quốc.
    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CT GDPT
    1. Quy định hiện hành về số học sinh nên được thay đổi. Nên có từ 25-30 học sinh /lớp.
    2. Quy định về số lượng cơ cấu giáo viên 1,2 GV/lớp đối với lớp học 1 buổi/ngày và 1,5 lớp đối với lớp học 2 buổi/ngày (tính cả GV tiếng Anh, Tin học, Âm nhạc, Mỹ thuật, và Thể dục) là không đủ giáo viên để dạy 2 buổi/ngày. Nên thay đổi lại 1,2 GV/lớp đối với lớp học 1 buổi/ngày và 1,5 lớp đối với lớp học 2 buổi/ngày (không tính GV tiếng Anh, Tin học, Âm nhạc, Mỹ thuật, và Thể dục).
    3. Về cơ sở vật chất trường tiểu học phải đảm bảo 1 lớp/01 phòng theo lộ trình đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Không nên có tình trạng học sinh tiểu học chỉ học 1 buổi/ngày khi thực hiện chương trình đổi mới.
    - Có lộ trình đầu tư cơ sở vật chất bán trú và nhân viên phục vụ học sinh học 2 buổi/ngày trong trường tiểu học để đảm bảo sức khỏe cho học sinh và tạo an tâm cho phụ huynh.
    4. Quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cần đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, nhất là các khoản thu để đảm bảo cơ sở vật chất cho việc dạy và học trong khi ngân sách nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu về cơ sở vật chất cho đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.
    5. Tăng cường thêm các môn tự chọn bắt buộc để học sinh sau khi học xong bậc học phổ thông thì có thể áp dụng kiến thức đã học vào lao động sản xuất: đáp ứng được việc làm một nghề gần gũi như thợ điện, nước, trồng cây, nghề may…
    6. Cần đào tạo giáo viên các bộ môn đặc thù như: Âm nhạc, Mĩ thuật, Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Giáo dục kinh tế pháp luật một cách căn bản. Vì từ Tiểu học đến Trung học phổ thông đều có các môn học này.

    Trên đây là tổng hợp ý kiến góp ý cho Dự thảo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể của Sở Giáo dục và Đào tạo Thừa Thiên Huế.

Ủng hộ bài viết này