Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Thực hiện Công văn số 1677/BGDĐT-GDTrH ngày 25/4/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc góp ý dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Sở Giáo dục và Đào tạo Tiền Giang báo cáo như sau:
    - Sở Giáo dục và Đào tạo Tiền Giang đã chuyển email của Bộ Giáo dục và Đào tạo đến các phòng Giáo dục và Đào tạo, các trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học và các trường tiểu học trong toàn tỉnh;
    - Ngày 10/5/2017, Sở Giáo dục và Đào tạo Tiền Giang tổ chức Hội nghị góp ý dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể lấy ý kiến từ lãnh đạo các phòng Giáo dục và Đào tạo, các trường trung học phổ thông, các trường trung học cơ sở, các trường tiểu học và trường phổ thông có nhiều cấp học;
    Sở Giáo dục và Đào tạo Tiền Giang tập hợp các ý kiến đóng góp và xin báo cáo nội dung góp ý chương trình giáo dục phổ thông tổng thể như sau:
    Phần lớn các ý kiến đều thống nhất cao với dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Về mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã xác định được các yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của học sinh ở từng cấp học và phù hợp với Luật Giáo dục sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01/7/2010.
    A. Phần tổng quan
    Nhìn chung, chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã thể hiện tính xây dựng và đổi mới, chú trọng rèn luyện tư duy, giúp phát triển các phẩm chất, năng lực cho học sinh, vận dụng lý thuyết vào thực tiễn.
    Chương trình ở bậc tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản, đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực, định hướng chính vào giáo dục về giá trị gia đình, quê hương, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt;
    Chương trình đã có những điều mới, hợp lý và đưa vào một số môn học cần thiết cho học sinh như: Tin học ứng dụng, giáo dục Nghệ thuật, giáo dục Âm nhạc cũng trở thành định hướng nghề nghiệp;
    Định hướng nghề nghiệp có chương trình rõ ràng và có bộ môn để hướng nghiệp từ lớp 11 và lớp 12.
    B. Phần chi tiết
    I. Về một số nội dung dự thảo chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thể
    1. Những vấn đề chung
    1.1. Dự thảo Chương trình tổng thể đã thể hiện việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ chưa, ở mức độ nào?
    Ý kiến:
    Thực hiện quán triệt, đầy đủ quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ.
    Cơ sở pháp lý của việc đổi mới chương trình GDPT lần này dựa vào các Văn kiện chính trị của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, cụ thể là: Nghị quyết số 29-NQ/TW, Nghị quyết số 88/2014/QH13, Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 44/NQ-CP) và Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27 tháng 3 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đổi mới chương trình SGK GDPT.
    Theo tài liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, trong quá trình xây dựng chương trình GDPT tổng thể, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã “tham khảo và học tập chương trình và sách giáo khoa của nhiều nước tiêu biểu cho các khu vực khác nhau (Đông Nam Á, Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Úc; cử các đoàn cán bộ sang một số nước học tập và thông qua các tổ chức quốc tế mời các chuyên gia giáo dục của các nước (Anh, Mỹ, Hàn Quốc, Bỉ, Đức, Hồng Kong…) sang Việt Nam tập huấn về xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa”.
    Tuy nhiên, trong Dự thảo không tìm thấy bất kỳ tham chiếu nào đến “Hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về phân loại giáo dục” (ISCED, các phiên bản năm 1997 và 2011) của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp quốc và chưa thấy các nội dung của ISCED được ứng dụng vào Chương trình này.
    1.2. Dự thảo chương trình tổng thể đã tiếp cận xu hướng phát triển chương trình GDPT của các nước tiên tiến chưa, ở mức độ nào?
    Ý kiến:
    Dự thảo chương trình tổng thể đã tiếp cận xu hướng phát triển chương trình GDPT của các nước tiên tiến trên cơ bản định hướng nội dung chương trình, phương pháp, cách đánh giá. Các xu thế quốc tế nêu trên đã được vận dụng trong việc xây dựng chương trình GDPT của Việt Nam theo nguyên tắc: Học tập một cách sáng tạo và có hệ thống, không rập khuôn máy móc, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, mang tính hiện đại nhưng vẫn giữ được bản sắc dân tộc phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
    1.3. Dự thảo chương trìnhtổng thể có kế thừa các chương trình GDPT đã có của Việt Nam không, ở mức độ nào?
    Ý kiến: Có kế thừa chương trình GDPT cũ, phát triển những ưu điểm của các chương trình giáo dục phổ thông đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm xây dựng chương trình của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.Đạt mức độ: 6/10.
    1.4. Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo Chương trìnhtổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là phù hợp, rất tốt nếu thực hiện được. Một số ý kiến khác như sau:
    - Phân định nội dung giữa một số phẩm chất còn chồng chéo, chưa rõ ràng. Ví dụ như phẩm chất “yêu đất nước” với “yêu con người”, vì “yêu đất nước” thì cần phải yêu cả các yêu tố tự nhiên và xã hội, trong xã hội thì có “con người”; hay phẩm chất “chăm học” và “chăm làm” nếu học sinh đã “chăm làm” thì có nghĩa là đã “chăm học”.
    - Cần bồi đắp song hành giữa con người tự do cá nhân và con người nghĩa vụ vì cộng đồng.
    1.5. Các năng lực chung cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo Chương trình tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Rất tốt, phù hợp với chương trình.
    1.6. Các năng lực chuyên môn cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo Chương trình tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là phù hợp. Một số ý kiến khác như sau:
    - Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của cấp tiểu học được nêu trong dự thảo là tương đối hợp lý. Tuy nhiên trong môn Giáo dục lối sống và Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, khi xây dựng nội dung cần chú trọng nhiều hơn đến việc thực hành, rèn luyện cho học sinh những kỹ năng sống cần thiết trong học tập và sinh hoạt, theo mục tiêu của giáo dục tiểu học.
    - Môn khoa học máy tính cần xem lại số tiết vì dạy và học lập trình ở mức trung học nên ở mức nhẹ nhàng để phù hợp cho mọi đối tượng học sinh.
    - Năng lực thể chất và các năng lực sinh tồn cần ưu tiên hình thành và phát triển cho học sinh. Các năng lực chuyên môn cần hướng về việc định hướng nghề nghiệp và các khối ngành nhiều hơn.
    1.7. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo Chương trình tổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là phù hợp. Một ý kiến khác như sau:
    Đối với học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông cũng cần bổ sung biểu hiện phẩm chất: Yêu thiên nhiên, học sinh cần có ý thức yêu quý thiên nhiên, yêu quý môi trường, ý thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường.
    1.8. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo Chương trìnhtổng thể đã phù hợp chưa? Nếu chưa thì cần thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là phù hợp. Một số ý kiến khác như sau:
    - Các phẩm chất và năng lực chủ yếu hình thành ở học sinh tiểu học cần đạt phù hợp với xu thế phát triển chung của các nước tiên tiến trong khu vực châu Á nhưng còn nặng nề trong việc nhận xét theo các biểu hiện yêu cầu cần đạt, có lúc chồng chéo với nhau, chưa rõ ràng giữa năng lực và phẩm chất, chưa phù hợp với đối tượng học sinh tiểu học. Thay vì chỉ cần trong quá trình học tập giáo viên theo dõi học sinh ghi tổng thể về năng lực, phẩm chất là được.
    - Về năng lực nên rút lại còn 6 yêu cầu tương ứng với 6 phẩm chất. Năng lực chung và năng lực riêng nên gọi chung là năng lực (đối với tiểu học);
    - Ở phần 1.1. Tự lực ở cấp trung học phổ thông nên điều chỉnh thành “có ý thức giúp đỡ mọi người xung quanh, tự lực trong các hoạt động”.
    - Mục 4.1. Năng lực sử dụng tiếng Việt ở cấp trung học phổ thông, thay cụm từ “Biết trình bày và bảo vệ quan điểm của cá nhân một cách chặt chẽ, có sức thuyết phục” thành “Trình bày và bảo vệ được các quan điểm của cá nhân một cách chặt chẽ, thuyết phục”.
    2. Kế hoạch giáo dục
    2.1. Dự thảo chương trình tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của chương trình GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là hợp lý. Một số ý kiến khác như sau:
    - Môn học bắt buộc có phân hóa ở tiểu học trong chương trình có quy định một số chủ đề hoặc học phần học sinh được tự chọn tùy theo nguyện vọng, cho nên khi các trường tổ chức sẽ gây ra sự khó khăn, phức tạp về quản lý đó là: Học sinh tiểu học chưa biết lựa chọn các môn hay chủ đề phù hợp với bản thân (đặc biệt là lớp 1, lớp 2) do đó sẽ xảy ra việc ép học sinh lựa chọn chủ đề là thế mạnh của nhà trường hoặc giáo viên sẽ lựa chọn thay thế học sinh;
    “Hệ thống các môn học của chương trình GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộcgiai đoạn giáo dục cơ bảncủa cấp học THCS là hợp lý. Còn giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp thì chưa phù hợp, ví dụ môn Ngữ văn tới lớp 11,12 thì đi vào chuyên sâu, người học có năng lực sáng tác thì học sinh khối tự nhiên có cần không?
    - Cần thay đổi môn học “tự chọn bắt buộc”, chỉ nên chia thành môn học bắt buộc và môn học tự chọn.
    - Sự lựa chọn bắt buộc chỉ thiên về KHTN hoặc KHXH học sinh sẽ hạn chế về mặt kiến thức (THCS)
    2.2. Dự thảo chương trình tổng thể nêu: “Trong một năm học, thời gian thực học các môn học của chương trình GDPT tương đương với 37 tuần, gồm35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là phù hợp. Một số ý kiến khác như sau:
    - Kế hoạch giảng dạy thời gian thực học của tiểu học 37 tuần so với trước đây chỉ có 35 tuần, tăng hai tuần ảnh hưởng đến việc tăng khối lượng công việc của giáo viên và việc nghỉ hè của các em học sinh.
    - Thời lượng ở mỗi tiết học của tiểu học chưa thống nhất với nhau. Cần có sự thống nhất chung từ lớp 1 đến lớp 5 mỗi tiết học đều từ 35 đến 40 phút.
    - “Trong một năm học, đối với THCS, THPT, thời gian thực học các môn học của Chương trình GDPT tương đương với 36 tuần, gồm 34 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương”.
    - Nên giao cho địa phương tự quyết định và giảm bớt lại số tuần học và phải có 03 tuần dạy học thực hành (THCS);
    2.3. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học nhiều hay ít? Nếu nhiều (ít) thì nên giảm (tăng) như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là hợp lý, đa dạng. Một số ý kiến khác như sau:
    - Vốn dĩ học sinh tiểu học chỉ nên hướng tới mục tiêu dạy các em biết đọc và viết thông thạo tiếng Việt, tính toán đơn giản, bước đầu làm quen với việc học ngoại ngữ. Thế giới công nghệ là một môn học mới hoàn toàn được dự thảo chương trình giáo dục tổng thể đưa vào chương trình lớp 1, 2. Do đó, kiến nghị chỉ nên đưa vào giảng dạy từ lớp 3;
    - Nên giảm bớt nội dung hoạt động trải nghiệm sáng tạo vì nội dung này nên đưa vào từng môn học sẽ phù hợp hơn là một hoạt động riêng;
    - Đối với tiểu học, không đưa môn Tiếng dân tộc thiểu số là môn tự chọn vì Tiếng dân tộc không thông dụng. Có thể đưa một số môn như Tiếng Hàn, Nhật, Pháp, Hoa vào môn tự chọn (ngoại ngữ 2).
    - Ở cấp THPT, có nhiều môn học và hoạt động giáo dục, cần giảm ở môn Mĩ thuật và Âm nhạc hoặc có thể gộp 2 môn này thành một môn học.
    - Quá nhiều môn mới đưa vào chương trình; lượng kiến thức nhiều.
    - Tùy điều kiện cụ thể của từng trường để có phân phối cho hợp lý.
    - Phải đảm bảo các môn Lý, Hóa, Sinh, Lịch sử, Địa lí là môn học bắt buộc đối với học sinh lớp 11, 12.
    2.4. Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đa số ý kiến nhận xét là hợp lý. Một số ý kiến khác như sau:
    - Ở nội dung giáo dục tiểu học: tên gọi môn học Cuộc sống quanh ta với các môn Tìm hiểu tự nhiên, Tìm hiểu xã hội liệu có trùng lắp không? Dạy học môn Cuộc sống quanh ta là dạy những gì?
    - Ở cấp THPT môn Khoa học máy tính và Tin học ứng dụng nên gộp lại với tên là Tin học. Tên môn Thiết kế và công nghệ còn mơ hồ nên cụ thể thiết kế cái gì, hay chỉ đặt tên là Công nghệ.
    - Giáo dục thể chất nên dạy theo dạng chuyên đề thực hiện vào buổi học riêng, không xếp thời khóa biểu chung với các môn khác.
    - Đổi tên gọi môn Giáo dục kinh tế và pháp luật chưa phù hợp.
    - Môn Âm nhạc và Mĩ thuật nên nhập lại thành một môn Nghệ thuật như cấp tiểu học và trung học cơ sở.
    2.5. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp học đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là hợp lý. Một số ý kiến khác như sau:
    - Nên tăng thêm số giờ học Tiếng Việt và Toán cho khối tiểu học, giảm hoặc có thể thực hiện luân phiên các môn đã nêu ở mục 2.4.
    - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo chưa chia tách rõ nội dung nào thuộc về hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nội dung nào thuộc về phần thực hành của các môn học riêng biệt. Vì vậy khó hình dung ra nhiệm vụ của người giáo viên dạy hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    - Môn ngoại ngữ 1 cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông chỉ có 105 tiết quá ít so với cấp tiểu học, môn này có tới 140 tiết. Vì thế, nên tăng số tiết ở môn học này là 140 tiết.
    - Thời lượng của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp của mỗi cấp THPT chưa thật hợp lý với bộ môn Ngữ văn, vì tới lớp 10 HS hoàn thành giáo dục cơ bản thì sau đó lớp 11 và 12 trở thành môn tự chọn bắt buộc với học sinh có định hướng mĩ thuật, khối xã hội còn học sinh có định hướng kĩ thuật, tăng tiết thực hành, hoạt động trải nghiệm.
    - Môn Giáo dục kinh tế và pháp luật là môn học bắt buộc lớp 11 và 12.
    - Chưa hợp lý đối với Thể chất, Âm nhạc, Hội họa.
    - Hoạt động trải nghiệmtùy thuộc vào địa phương quy định.
    2.6. Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, dự thảo chương trình tổng thể nêu: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy học nội dung giáo dục của địa phương”. Quy định như vậy đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Một số ý kiến khác như sau:
    Việc học 02 buổi/ngày là cần thiết, cho tất cả các khối lớp từ lớp 1 đến 12 để đủ thời gian học tất cả các môn, đồng thời có thêm thời gian để được rèn luyện các kỹ năng. Cần bố trí thêm thời gian hướng dẫn trên lớp và nội dung giáo dục địa phương.
    - Cấp tiểu học, đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy họcnội dung giáo dục của địa phương. Quy định như vậylà chưa hợp lý, vì học sinh nào cũng đều cần những hiểu biết nhất định về địa phương, môi trường để rèn luyện phát triển, nhất là có sự định hướng của giáo viên.Do đó nên giảm thời lượng giáo dục của một số môn học còn nặng nề về kiến thức và tạo điều kiện cho giáo viên được quyết định nội dung giảng dạy, giáo dục phù hợp với từng đối tượng học sinh và thực tế từng địa phương.
    2.7. Theo Thầy (Cô), việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo CT tổng thể) phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường có ưu điểm gì, hạn chế gì? Nếu không đồng ý phương án trên, đề nghị Thầy (Cô) đề xuất một số phương án khác nhằm thực hiện quy định tại Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT: “Giáo dục định hướng nghề nghiệp bảo đảm học sinh tiếp cận nghề nghiệp, chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng”. Ý kiến:
    Ưu điểm:
    - Giúp học sinh định hướng nghề nghiệp trong tương lai, việc học sẽ nhẹ nhàng hơn vì các em lựa chọn được môn học mình yêu thích, giảm bớt những môn mà các em nhận thấy không cần thiết.
    - Tăng tính tích cực chủ động cho học sinh trong việc lựa chọn môn học yêu thích và phù hợp với năng lực của bản thân. Giúp học sinh hiểu biết nhiều hơn và phát huy năng khiếu của mình.
    Hạn chế:
    - Việc lựa chọn môn học tự nguyện có thể sẽ gây một số khó khăn trong việc tổ chức lớp học (về số lượng học sinh khác nhau, cách thức tổ chức, kiểm tra đánh giá,...); giáo dục không toàn diện gây khó khăn cho những môn được ít học sinh chọn, khó tổ chức hoạt động dạy và học.
    - Học sinh có thể chọn môn học theo bạn bè, số đông dẫn đến thiếu giáo viên hướng dẫn ở một số môn do học sinh đăng kí nhiều; và một số môn ít học sinh đăng kí.
    - Một số địa phương sẽ gặp khó khăn do chưa đủ điều kiện để chuẩn bị theo yêu cầu của chương trình mới.Cơ sở vật chất và nhân sự chưa đáp ứng kịp so với lộ trình đổi mới.
    Đề xuất:
    - Để việc lựa chọn của học sinh thực sự có tác dụng thì ngay từ các lớp học dưới, học sinh cần được tạo điều kiện để phát hiện cũng như phát triển các năng lực của bản thân, đồng thời cần có phương pháp giúp học sinh định hướng lựa chọn môn học phù hợp với bản thân cũng như yêu cầu lao động của xã hội.
    - Nên có 04 môn tự chọn và giảm còn 01chuyên đề học tập, 02 môn tự chọn để vừa sức học sinh.
    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Dự thảo chương trình tổng thể nêu “Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là hợp lý. Một số ý kiến khác như sau:
    - Học sinh tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo được công nhận hoàn thành Chương trình GDPT.
    - Cần có tiêu chí đánh giá chung, chuẩn và thống nhất và mức độ đánh giá: Đạt và Chưa đạt.
    II. Về điều kiện thực hiện chương trình GDPT tổng thể
    1. Quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện chương trình GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là không cần. Một số ý kiến khác như sau:
    - Chưa phù hợp về số lượng học sinh. Số học sinh của tất cả các khối lớp từ lớp 1 đến lớp 12: từ 30-35 học sinh/ lớp.
    - Cần lưu ý đến việc học sinh đăng kí các môn học tự chọn bởi vì sẽ có những môn học sinh đăng kí quá nhiều và môn đăng kí ít (không đăng kí). Những môn học sinh không đăng kí, giáo viên không có học sinh để dạy.
    - Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có những quy định cụ thể về việc bố trí lại bàn ghế cần được thay đổi linh động phù hợp với các môn học, hoạt động giáo dục và hỗ trợ thêm các phương tiện dạy học phù hợp.
    - Quy định hiện hành về lớp học, số học sinh, điểm trường hiện nay là chưa phù hợp để thực hiện chương trình GDPT mới. Cần phải tăng cường thêm nhiều phòng học chuyên dụng như phòng Âm nhạc (cách âm), phòng múa, phòng vẽ tranh,… (THCS, THPT)
    2. Quy định hiện hành về số lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện chương trình GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là không cần. Một số ý kiến khác như sau:
    - Cần tổ chức các buổi tập huấn bồi dưỡng cách thức giảng dạy theo chương trình GDPT mới cho giáo viên phổ thông để giáo viên nắm rõ cách thức giảng dạy và nội dung giảng dạy theo chương trình mới.
    - Cần bổ sung giáo viên dạy trải nghiệm sáng tạo, giáo viên dạy Mỹ thuật, Âm nhạc (cấp THCS, THPT);
    - Với chương trình GDPT mới, đòi hỏi điều kiện về đội ngũ giáo viên, về số lượng và chất lượng, trong khi điều kiện hiện nay chưa thật phù hợp.
    3. Quy định hiện hành về cơ sở vật chất trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện chương trình GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến là không cần thay đổi. Một số ý kiến khác như sau:
    Bố trí lại bàn ghế để có thể thay đổi linh động, trang bị đầy đủ các phương tiện dạy học phù hợp trong mỗi lớp học. Có sân chơi, thiết bị đáp ứng nhu cầu dạy và học. Bổ sung trang thiết bị, hóa chất đầy đủ, chất lượng cho phòng thí nghiệm.
    4. Quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội có cần thay đổi để phù hợp với việc thực hiện Chương trình GDPT mới không? Nếu cần thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến là không cần thay đổi, vì quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội là phù hợp. Một số ý kiến khác như sau:
    Cần kêu gọi xã hội hóa để chương trình GDPT mới được chuẩn bị tốt và có tính khả thi cao; tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội để giáo dục học sinh tốt hơn.
    5. Đối với trường tiểu học, dự thảo chương trình tổng thể nêu “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày cần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 - 2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022 - 2023 dạy học 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp tiểu học” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là hợp lý. Một số ý kiến khác như sau:
    - Đối với trường tiểu học: “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2buổi/ngàycần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018-2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022-2023 dạy học 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp tiểu học” là phù hợp.
    - Học sinh ở độ tuổi tiểu học, ngoài việc học ở trường lớp, ngoài việc học từ thầy, côcòn nhiều kỹ năng, năng lực khác cần phải hình thành trong môi trường xã hội hoặc ở gia đình. Các em cũng cần phải học tập từ cha, mẹ, ông bà và xã hội, vì vậy việc học 2 buổi/ngày cho tất cả các ngày trong tuần là quá nhiều và không hợp lí.
    6. Ở lớp 11 và lớp 12, việc đề xuất các trường xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc tự chọn (để học sinh tự chọn 3 môn từ các tổ hợp này) nhằm đáp ứng nhu cầu của người học đồng thời phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là hợp lý. Một số ý kiến khác như sau:
    - Gặp khó khăn trong việc xếp giờ, xếp lớp, phân bổ giáo viên, nảy sinh hiện tượng môn thừa, môn thiếu giáo viên.
    - Nhiều nhà trường chưa đáp ứng đủ điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất để thực hiện tổ hợp môn bắt buộc tự chọn.
    7. Những môn học, hoạt động giáo dục nào trong dự thảo chương trình tổng thể khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường thầy (cô) đang công tác hiện nay?
    Ý kiến: Các môn Âm nhạc và Mĩ thuật ở cấp THPT. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, Hoạt động nghệ thuật, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Tiếng dân tộc thiểu số, Mĩ thuật, Khoa học máy tính, Ngữ văn, Thể chất, Hội họa, Nghiên cứu khoa học kỹ thuật, các môn tự nhiên.
    - Việc xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc.
    8. Để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo chương trình GDPT tổng thể có cần cải thiện cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường thầy (cô) đang công tác không? Nếu cần thì nên thực hiện các biện pháp nào?
    Ý kiến: Đa số ý kiến nhận xét là cần cải thiện.
    - Cần trang bị thêm phòng nghe nhìn cho môn Ngoại ngữ nhằm phát triển toàn diện 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Xây dựng nhà thi đấu đa năng, khu thể thao, các phòng thí nghiệm, phòng Lab.
    - Cần tăng cường các phương tiện công nghệ trong các phòng học, cải thiện khối phục vụ học tập cho đúng quy cách và chất lượng.
    - Cần cải thiện cơ sở vật chất, sân chơi, bãi tập, cung cấp nhiều thiết bị thực hành hơn cho các môn thực nghiệm.
    III. Ý kiến đề xuất thêm
    - Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính để ban hành các thông tư liên tịch hướng dẫn về biên chế nhân sự, chế độ chính sách phù hợp với việc thay đổi chương trình GDPT tránh tình trạng thiếu biên chế, thiếu nguồn lực tài chính khi tiến hành.
    - Bộ Giáo dục và Đào tạo cần công bố sớm phát thảo nội dung của từng môn họcvà biên soạn tài liệu dạy học, sách giáo khoa phù hợp với chương trình và đáp ứng được yêu cầu tiếp cận kiến thức của học sinh.
    - Môn Tin học nên được giảng dạy từ lớp 1.
    - Tất cả các môn học của lớp 11 và 12 nên là môn tự chọn.
    - Cần có một môi trường giáo dục đề cao tinh thần phản biện ở người học về giúp học sinh cảm nhận được niềm vui của sự học, học để phát triển con người chứ không đơn thuần là chọn nghề.
    - Bồi dưỡng giáo viên cho chương trình mới là việc làm vô cùng cấp bách hiện nay. Vì vậy, để đội ngũ giáo viên giảng dạy đủ năng lực, trình độ, đòi hỏi phải có bước chuẩn bị từ rất sớm.
    Đề xuất:
    - Nội dung về giáo dục kinh tế địa phương tích hợp vào môn Giáo dục kinh tế và pháp luật, Địa lý; Nội dung về giáo dục văn hoá, xã hội địa phương tích hợp vào môn Ngữ văn, Địa lý; Nội dung về giáo dục lịch sử địa phương tích hợp vào môn Lịch sử.
    - Việc chuyển các môn ở lớp 10 bắt buộc (Giáo dục kinh tế và pháp luật, Lịch sử, Địa lý, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Thiết kế và Công nghệ) lên lớp 11, 12 chuyển thành tự chọn? Vậy kết cấu chương trình lớp 10 các môn này sẽ có cấu trúc như thế nào? HS có thể thay đổi môn tự chọn từ lớp 11 lên lớp 12 không?
    - Môn Ngoại ngữ: “Nội dung chương trình được xây dựng dựa theo yêu cầu của Khung trình độ ngoại ngữ sáu bậc dành cho Việt Nam” tương thích với các bậc A1, A2, B1, B2, C1, C2 khung tham chiếu chung châu Âu (CEFR) và “đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước”.
    - Quy định cụ thể trình độ đạt được của học sinh sau mỗi lớp, mỗi cấp học theo Khung trình độ ngoại ngữ sáu bậc dành cho Việt Nam và tổ chức cho học sinh thi chứng chỉ quốc tế vừa đánh giá chất lượng dạy học khách quan vừa được cấp chứng chỉ quốc tế.
    Về các năng lực chung:
    + Năng lực tự học: dự thảo Tiểu học: “Tự làm được những việc của mình ở nhà và ở trường theo sự phân công, hướng dẫn” và THCS “Chủ động, tích cực thực hiện những công việc của bản thân trong học tập và trong cuộc sống; không đồng tình với những hành vi sống dựa dẫm, ỷ lại”. Đề nghị điều chỉnh như sau Tiểu học: “Tự làm được những công việc của bản thân trong học tập và trong cuộc sống theo sự phân công, hướng dẫn” và THCS “Chủ động, tích cực thực hiện những việc của mình ở nhà và ở trường; không đồng tình với những hành vi sống dựa dẫm, ỷ lại”.
    - Hằng năm, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức khảo sát thực tế, tham khảo ý kiến các cơ quan quản lý giáo dục, các trường, cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và những người quan tâm để đánh giá chương trình, xem xét, điều chỉnh (nếu cần thiết) và hướng dẫn thực hiện các điều chỉnh (nếu có): đây là điểm tích cực trong việc cập nhật và điều chỉnh chương trình phù hợp với thực tiễn.
    - Bộ Giáo dục và Đào tạo chú trọng cập nhật các số liệu mới, kiến thức mới một cách chính thống trên website (để có cơ sở pháp lý trong thực hiện).
    - Bộ Giáo dục và Đào tạo chú trọng cân đối giữa nội dung chương trình môn học và thời lượng được quy định cho môn học để tăng tính khả thi khi thực hiện.
    - Học sinh lớp 6 năm 2018, 2019, 2020, 2021, sẽ học theo chương trình cũ từ lớp 1 - 5, sau đó chuyển tiếp sang chương trình mới. Học sinh lớp 10 năm 2018, 2019, 2020, sẽ học chương trình cũ từ lớp 1 - 9, sau đó chuyển qua chương trình mới. Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm vấn đề này để đảm bảo sự tương thích, kế thừa giữa chương trình hiện tại và chương trình mới, có những giải pháp và hướng dẫn cụ thể cho các cơ sở giáo dục nhằm đảm bảo cho tính khả thi của chương trình mới, đảm bảo chất lượng học tập của học sinh.
    - Cần đề xuất thêm trong phần phụ lục: nên có sự kế thừa trên thế giới ở những điểm nào, vì sao phải kế thừa. Chỉ ra đâu là kế thừa, đâu là đổi mới.
    - Trong chương trình, cần lược bớt những cách diễn đạt trừu tượng, khó hiểu, nên dùng từ toàn dân, phổ thông. Chẳng hạn như: thời lượng giáo dục nên dùng cụm từ thời lượng giảng dạy,
    - Điều chỉnh lại môn học Cuộc sống quanh ta thành môn học Tìm hiểu xã hội hay Tìm hiểu tự nhiên. Nếu để riêng từng môn, phụ huynh và xã hội nghĩ rằng học sinh tiểu học phải học quá nhiều môn.
    - Lớp 1, 2, 3: theo chương trình GDPT tổng thể có 31 tiết/tuần, trong khi cấp tiểu học chỉ có 25 tiết/tuần thực học. Vì vậy, cần điều chỉnh kế hoạch dạy học cho phù hợp (vượt 06 tiết/tuần);
    - Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ cần có Thông tư liên tịch về quy định biên chế giáo viên/lớp bậc tiểu học. Số lượng này cần phải có từ 1,7 đến 1,9 giáo viên/lớp mới đáp ứng yêu cầu giảng dạy theo chương trình GDPT tổng thể.

    Trên đây là một số nội dung góp ý về chương trình GDPT tổng thể của Sở Giáo dục và Đào tạo Tiền Giang./.

Ủng hộ bài viết này