Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Sở Giáo dục và Đào tạo (SGDĐT) Thành phố Hồ Chí Minh có nhận được công văn số 1496/BGDĐT-VP ngày 12 tháng 4 năm 2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc xin ý kiến góp ý cho dự thảo chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) tổng thể, SGDĐT đã gửi chương trình đến các Phòng Giáo dục và Đào tạo quận, huyện để nghiên cứu, góp ý. SGDĐT cũng đã tổ chức buổi họp góp ý vào ngày 26/4/2017 và nay tổng hợp các ý kiến như sau:

    1. Quan điểm xây dựng CTGDPT mới
    - Dự thảo CTGDPTTT đã phần nào đáp ứng được những yêu cầu về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” mà Nghị quyết 29-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã đề ra. Theo đó, chương trình mới thực hiện giáo dục toàn diện, tích hợp ở cấp tiểu học và trung học cơ sở, thực hiện phân hóa và tự chọn ở cấp học trung học phổ thông. Hệ thống các môn học của chương trình giáo dục tiểu học được chia thành các môn học bắt buộc và môn học bắt buộc có phân hóa kết hợp với môn học tự chọn (tiếng dân tộc thiểu số) và hoạt động tự học có hướng dẫn trên lớp dành cho học sinh học 2 buổi/ngày.
    - Tuy nhiên, đổi mới chương trình GDPT là một quá trình khó khăn, tốn kém sức người và tiền bạc. Vì vậy, cần đặt ra một số mục tiêu cụ thể đủ lớn cho lần đổi mới chương trình GDPT lần này để tất cả các cơ quan nhà nước, toàn ngành giáo dục và đông đảo tầng lớp nhân dân, học sinh thông hiểu và chia sẻ.

    2. Mục tiêu CTGDPT và mục tiêu CT giáo dục của từng cấp học
    - Mục tiêu của CTGDPT được xác định tương đối cụ thể và toàn diện ở tất cả các cấp học.

    3. Hệ thống phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi của học sinh; yêu cầu cần đạt và các biểu hiện phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi của học sinh khi hoàn thành chương trình giáo dục của từng cấp học
    - CTGDPTTT đã chú trọng nhiều hơn đến việc phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh theo đúng mục tiêu đã đề ra. Năng lực và phẩm chất được chi tiết hóa (10 năng lực và 6 phẩm chất) và rõ ràng hơn theo từng cấp học bậc học đáp ứng việc đào tạo nguồn nhân lực bắt nhịp với những yêu cầu mới của thời đại (ví dụ như năng lực tin học đối với học sinh tiểu học ở những tiêu chí cuối đã yêu cầu các em có thể theo hướng dẫn tìm được thông tin từ nguồn dữ liệu số hóa, hay dùng tài nguyên thông tin và kỹ thuật của CNTT để giải quyết một số vấn đề phù hợp với lứa tuổi … và nâng cao dần ở những cấp lớp trên sẽ giúp học sinh có thể dần hình thành những năng lực phù hợp để tiến tới đón đầu thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 …)
    - Tuy nhiên, hệ thống phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi theo dự thảo CTGDPT cần chú ý thêm một số điểm sau:
    + Cần cân nhắc xem có thực sự nên phân chia ra các nhóm năng lực chung và các nhóm năng lực chuyên môn không bởi xu hướng phát triển chung của thế giới và của các nền giáo dục tiên tiến hiện nay là hướng đến lĩnh hội tri thức và phát triển kĩ năng theo hướng liên ngành.
    + Cần thuyết minh cụ thể hơn làm thế nào để các phẩm chất và năng lực này đạt được qua các mục tiêu của các môn học và các cấp học. Cần đảm bảo các phẩm chất và năng lực từ giai đoạn mầm non, tiểu học, trung học, phổ thông và đại học đều có xu hướng tiến triển và đồng nhất .
    + Trong dự thảo, ba nhóm năng lực chủ đạo được hướng đến là: “năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo”, song xét về ý nghĩa thì chúng bao hàm lẫn nhau. Năng lực hợp tác đã có thể bao gồm năng lực giao tiếp, năng lực tự chủ có thể bao gồm tính chủ động học tập, và năng lực giải quyết vấn đề bao gồm tất cả các năng lực trên. Vì vậy, nên lấy năng lực giải quyết vấn đề là năng lực nòng cốt mà nền giáo dục hiện đại hướng tới vì nó kết hợp một nhóm các năng lực khác như năng lực tư duy (phản biện, sáng tạo), năng lực tự chủ, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ,….
    + Thay vì nêu lên những năng lực nhỏ hẹp như “thẩm mỹ, “thể chất”, “tính toán”, “tìm hiểu tự nhiên và xã hội” qua từng môn học thì nên chia ra thành các mục tiêu học tập bao gồm phát triển mảng kiến thức và kĩ năng liên quan qua từng cấp độ và từng môn học cụ thể. Nhìn chung mục nội dung này cần được làm rõ hơn, đặc biệt là nên lý giải dựa trên các kết quả nghiên cứu trước đó, những giả định hay những kênh tham khảo có liên quan
    - Dự thảo CTGDPT khi đề cập đến vấn đề đánh giá cần được làm rõ hơn với việc cấp bằng tốt nghiệp cho từng cấp học (Tiểu học, THCS)

    4. Kế hoạch giáo dục giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp; hệ thống môn học bắt buộc, môn học tự chọn và cách chọn, thời lượng giáo dục ở từng cấp học
    - Nhìn từ góc độ cấu tạo chương trình (thời điểm giảng dạy từng môn theo độ tuổi, nội dung giảng dạy cơ bản của các môn …) thì Chương trình tiểu học hiện tại và chương trình tiểu học trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể xét về mặt bản chất không khác nhau quá nhiều, tạo điều kiện tương đối thuận lợi khi triển khai rộng rãi.
    - CTGDPTTT cũng “trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội”. Có thể thấy đây là một quan điểm rất tích cực, giúp cho các cơ sở giáo dục chủ động hơn trong quá trình triển khai cũng như hoàn thành kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục của mình.
    - CTGDPTTT “quyết liệt” hướng đến việc học sinh học 2 buổi/ngày khi yêu cầu “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2 buổi/ngày cần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 – 2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022 – 2023 dạy học 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp tiểu học”. Yêu cầu này mang ý nghĩa tốt khi hướng đến việc đảm bảo thời gian phù hợp cho những nội dung giáo dục toàn diện đã đề cập ở trên. Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình thực tế, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, nhất là ở các thành phố lớn, nơi có tỷ lệ dân số tăng cơ học rất cao và tốc độ xây dựng trường lớp khó bắt kịp với tốc độ phát triển của dân cư, thì thời gian triển khai hình thức học 2 buổi/ngày cho toàn bộ học sinh tiểu học trên toàn quốc là cần tính toán cho phù hợp hơn.
    - Không như quy định hiện tại tùy theo môn học mà giáo viên dạy từ 30 đến 40 phút, dự thảo CTGDPT quy định theo khối lớp: Lớp 1, 2 thì mỗi tiết học từ 30 - 35 phút, Lớp 3, 4, 5 thì mỗi tiết học từ 35 - 40 phút, giữa các tiết có thời gian nghỉ giữa tiết. Vậy khi phân thời gian tiết theo lớp như vậy thì việc sắp xếp giờ ra chơi giữa lớp 1, 2 và lớp 3, 4, 5 sẽ lệch nhau. Vì vậy, cần đưa ra thời lượng tiết học của cả 5 khối tương đồng nhau. Một số trường chưa đủ điều kiện thực hiện 2 buổi/ ngày sẽ không đảm bảo được thời gian tự học và dạy học nội dung giáo dục ở địa phương sẽ thiệt thòi cho học sinh học 1 buổi/ngày.
    - Song song với nội dung này, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cần nghiên cứu đến việc áp dụng một chương trình thích hợp (về nội dung, thời lượng, phương pháp giảng dạy …) đối với những địa phương, những trường, vì một số lý do khách quan hoặc chủ quan nào đó, chưa đủ khả năng áp dụng hình thức học 2 buổi/ngày cho đơn vị của mình.
    - Một số đề xuất cụ thể ở cấp Tiểu học
    + Không nhất thiết tách môn “Cuộc sống quanh ta” của lớp 1,2,3 thành 2 môn “Tìm hiểu xã hội” hay “Tìm hiểu tự nhiên” ở lớp 4 và 5 vì vô tình sẽ tạo cảm giác số môn học bị tăng lên trong khi nội dung môn không có nhiều khác biệt. Nếu vẫn bắt buộc phải phân hóa thì thiết nghĩ Bộ Giáo dục và Đào tạo phải minh chứng được vì sao phải phân hóa? Phân hóa nhằm mục đích gì? Liệu có bị quá tải và không thiết thực so với mục tiêu đào tạo của cấp tiểu học đã đề ra trong dự thảo là tích hợp cao ở tiểu học và phân hóa mạnh ở các cấp học sau?
    + Cấp tiểu học có nhiều môn, nội dung bắt buộc (chưa kể các môn bắt buộc có phân hóa và môn tự chọn) như tiếng Việt, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục lối sống, Cuộc sống quanh ta, Tìm hiểu xã hội, Tìm hiểu tự nhiên, Tìm hiểu công nghệ. Nhưng trong thực tế hầu hết là các môn hiện nay các em vẫn đang được học, có thêm Ngoại ngữ và Tin học được đưa vào chương trình chính thức. Ví dụ như Giáo dục lối sống tương tự môn Đạo đức; Cuộc sống quanh ta, Tìm hiểu xã hội, Tìm hiểu tự nhiên thực chất là môn Tự nhiên xả hội, Lịch sử-Địa lý và môn Khoa học ... Tổng thời lượng với lớp 1-3 là 1.147 tiết, ở lớp 4-5 là 1.184 tiết, bao gồm các môn bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa và các môn học tự chọn, nội dung giáo dục của địa phương và học sinh phải học 2 buổi/ngày; Như vậy, nếu so với chương trình cũ, cần xem xét chương trình mới có nặng về kiến thức hơn, có quá tải hơn so với chương trình trước đây và có áp lực cho trẻ trong độ tuổi này không? Vốn dĩ học sinh tiểu học chỉ nên hướng tới mục tiêu dạy các em biết đọc và viết thông thạo tiếng Việt, bước đầu làm quen với việc học ngoại ngữ, giáo dục kỹ năng sống và sự hiểu biết ban đầu về tự nhiên, xã hội.
    + “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo” là một hoạt động mới quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên, hoạt động trải nghiệm sáng tạo và nội dung giáo dục của địa phương về bản chất có phần tương đối giống nhau khi tổ chức ở nhà trường, do đó hai hoạt động này cần kết hợp giữa cái chung của cả nước và cái riêng của từng địa phương khi tổ chức các hoạt động giáo dục cho học sinh.

    5. Định hướng xây dựng các chương trình môn học theo yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GDPT
    - Về định hướng nội dung giáo dục đối với môn Ngoại ngữ, từ thực tiễn nhiều năm thực hiện chương trình Ngoại ngữ (Tiếng Anh, tiếng Pháp) cũng như học sinh và phụ huynh trong những năm qua được tiếp cận với các chuẩn đánh giá quốc tế ở những nơi có điều kiện, nên cho học sinh lớp 1 và lớp 2 được học ngoại ngữ với số tiết như học sinh các lớp 3,4,5 (140 tiết/năm học). Đối với những nơi đã từng thực hiện chương trình Tăng cường Tiếng Anh của địa phương và Tăng cường Tiếng Pháp của Bộ nên cho tiếp tục duy trì 8 tiết/tuần.
    - Đối với môn tìm hiểu tin học ở tiểu học nếu chỉ định hướng là “học sinh sử dụng các phần mềm đơn giản để hỗ trợ cho việc học tập, chú trọng rèn luyện cho học sinh tuân theo các nguyên tắc giữ gìn sức khỏe khi sử dụng các thiết bị tin học” trong khi thế giới tin học ngày càng phát triển mạnh mẽ như hiện nay, học sinh được làm quen với các thiết bị hiện đại rất sớm thì định hướng trên chưa đáp ứng được nhu cầu của người học đối với những nơi có điều kiện. Đồng thời trong những năm qua chương trình tin học tự chọn tại các trường tiểu học đã được thực hiện chu đáo, học sinh còn được tiếp xúc với chuẩn đánh giá quốc tế thì định hướng trên có thể mở rộng cho những nơi có điều kiện có thể phát triển như hiện nay là 2 tiết/tuần và có thể thực hiện ngay từ lớp 1, 2.
    - Giao quyền cho các Sở Giáo dục và Đào tạo quyết định môn học tự chọn hoặc tiếng dân tộc để phù hợp với đặc trưng về điều kiện cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, phân bố dân cư để có thể khai thác hiệu quả điểm mạnh riêng của từng đơn vị. Nhấn mạnh nội dung rèn luyện các môn thể thao đối với học sinh lớp 3, 4, 5 như bơi lội, võ thuật, … nhằm định hướng việc rèn luyện để tự bảo vệ ngay từ độ tuổi tiểu học.
    - Cần xác định rõ nội dung các môn Mĩ thuật và âm nhạc là song song trong chương trình chung của môn Nghệ thuật (1 tiết mĩ thuật, 1 tiết âm nhạc) thay vì chung chung như hiện nay dễ dẫn đến quan điểm là mỗi khối lớp sẽ học một môn khác nhau. Môn tin học cần xác định các việc sử dụng phần mềm ứng dụng hỗ trợ cho việc học tập là các mảng kiến thức nào? Cần định hướng việc đánh giá năng lực học sinh học tiểu học theo hướng phát triển của quốc tế đối với các tỉnh thành có điều kiện, hoặc định hướng để các tỉnh thành chưa có điều kiện phấn đấu để phát huy.

    6. Định hướng về phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh
    - Về phương pháp giáo dục: Dự thảo vẫn xây dựng trên cốt lõi là tích cực hóa hoạt động của người học. Giáo viên tiếp tục đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn với tinh thần thân thiện. Tuy nhiên, cần giới thiệu cụ thể hơn về phương pháp: “Các hoạt động học tập được thực hiện với sự hỗ trợ của các hệ thống tự động hóa của kỹ thuật số.” để giáo viên nắm rõ hơn về điều kiện học tập và các phương tiện dạy học sẽ sử dụng.
    - Phương pháp đánh giá kết quả học tập của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể có nhiều đổi mới nhưng vẫn phù hợp với công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT và Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    7. Điều kiện tối thiểu của cơ sở GDPT để thực hiện CTGDPT mới
    - Dự thảo CTGDPTTT được giới thiệu vào thời điểm cuối năm học 2016 – 2017, như vậy thời điểm chính thức áp dụng chương trình giáo dục phổ thông chi tiết cần được dự kiến trước. Đồng thời Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cần nghiên cứu vấn đề nên chăng có một thời gian thích hợp để tiến hành thử nghiệm chương trình trước khi chính thức triển khai rộng rãi.
    - Với dự thảo CTGDPTTT, Bộ GD&ĐT đã xác định chương trình gồm hai giai đoạn cơ bản và hướng nghiệp; là cách làm phù hợp với các nền GD ưu tú thế giới; phù hợp xu thế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hiện nay. Tuy nhiên để có thể thực hiện được CTGDPTTT trên thì các điều kiện cần thiết về việc đổi mới công tác quản lý trường học, nâng cao chất lượng và năng lực cho đội ngũ, tăng cường cơ sở vật chất cho nhà trường, thực hiện việc xã hội hóa, ,,… để góp phần nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục trẻ cũng hết sức quan trọng. Đồng thời, việc ban hành CTGDPTTT này còn phải nhanh chóng ban hành chương trình chi tiết các môn học, các hoạt động giáo dục, tổ chức thử nghiệm trước khi triển khai cũng là những công việc cần được chuẩn bị chu đáo để triển khai thực hiện
    - CTGDPT có nhiều môn học mới đòi hỏi thực nghiệm, trong khi đó thiết bị thực nghiệm, cơ sở vật chất trường học hiện nay không đủ chuẩn để phục vụ các hoạt động trải nghiệm thực hành. Chưa kể sĩ số học sinh của các trường ở thành phố còn quá đông sẽ gây khó khăn khi triển khai giảng dạy các môn học này.

    - Một số môn học và hoạt động giáo dục theo dự thảo có tính tích hợp. Nhưng nhà trường và giáo viên phổ thông bị động hoàn toàn, giáo viên chưa được trang bị kiến thức liên môn. Cho nên khi xây dựng chương trình cụ thể cho từng môn học, cần phải có quy định hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn về môn, phần, số tiết, phương pháp giảng dạy…. Song song với đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chỉ đạo các trường Đại học, Cao đẳng có đào tạo ngành sư phạm khẩn trương nghiên cứu, xây dựng chương trình đào tạo giáo viên theo hướng tiếp cận năng lực nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực phù hợp với chương trình mới; bên cạnh đó, các trường cũng cần song song xây dựng chương trình bồi dưỡng, “đào tạo lại” với những giáo viên đã được đào tạo từ trước để đội ngũ này có thể thích ứng được với những yêu cầu mới./.

Ủng hộ bài viết này