Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Thực hiện Công văn số 1677/BGDĐT-GDTrH ngày 25/4/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về việc góp ý dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể,
    Ngày 10/5/2017, Sở GDĐT Tuyên Quang đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Thành phần dự hội thảo bao gồm: Lãnh đạo, chuyên viên Sở GDĐT; lãnh đạo, chuyên viên các phòng GDĐT; hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường THPT; hiệu trưởng một số trường Tiểu học và THCS; tổ trưởng chuyên môn một số trường THCS, THPT.
    Căn cứ các ý kiến thảo luận tại hội thảo và ý kiến góp ý bằng văn bản của các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh, Sở GDĐT tổng hợp ý kiến góp ý Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể như sau:

    I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
    1. Các phẩm chất và năng lực cần đạt của học sinh
    - Mục 2.1: “Yêu quý mọi người” (Trang 33): Nên sửa thành “Yêu quý bản thân và mọi người”; biểu hiện phẩm chất này ở cấp Tiểu học nên bổ sung: Tính kỉ luật trong các hoạt động; biết chia sẻ với các bạn gặp rủi ro trong cuộc sống”.
    - Mục 6.4 (cấp THPT) “Có trách nhiệm với môi trường sống”: Bổ sung “Chủ động, tích cực tham gia và vận động người khác tham gia các hoạt động tuyên truyền, chăm sóc, bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường sống và phát triển bền vững”.
    - Các năng lực chung của học sinh: Nên bổ sung thêm Năng lực tư duy phản biện, tư duy lôgic.
    - Phẩm chất 1: Nên thay cụm từ “Yêu đất nước” bằng cụm từ “Yêu Tổ quốc”.

    2. Kế hoạch giáo dục
    2.1.Thời gian năm học
    Nhất trí với thời gian 37 tuần: 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hoá và môn học tự chọn bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương.
    2.2. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục
    a) Cấp Tiểu học
    - Ở cấp Tiểu học chỉ nên bao gồm các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc; không nên bố trí các môn học bắt buộc có phân hóa vì học sinh tiểu học chưa biết lựa chọn các nội dung hay chủ đề phù hợp với bản thân.
    - Chương trình có môn học tự chọn và nội dung giáo dục địa phương, nhưng thực tế có ít sự lựa chọn môn học cho học sinh.
    - Môn Thế giới công nghệ: Nên bắt đầu học từ lớp 2 vì năm học lớp 1 nên tập trung phát triển năng lực ngôn ngữ, giao tiếp và kĩ năng sống cho học sinh.
    - Chương trình có các môn học và nội dung tự chọn nhưng lại không nêu rõ học sinh phải chọn thêm tối thiểu hoặc tối đa bao nhiêu môn hoặc nội dung.
    b) Cấp trung học
    - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nên định hướng rõ hơn nội dung nào thuộc về hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nội dung nào thuộc về phần thực hành của các môn học riêng biệt.
    2.3. Tên các môn học và hoạt động giáo dục
    - Các môn học tự chọn bắt buộc nên gọi là Các môn học tự chọn.
    - Tên gọi môn “Thiết kế và công nghệ” và môn “Giáo dục kinh tế và pháp luật” nên giữ nguyên như hiện nay là “Công nghệ” và “Giáo dục công dân”.
    - Một số ý kiến khác đề nghị môn “Thiết kế và Công nghệ” nên đổi tên thành “Công nghệ và Thiết kế” để phù hợp hơn với nội dung chủ yếu của môn học là phần công nghệ.
    2.4. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục
    - Nên quy định thống nhất thời gian mỗi tiết học ở các lớp tiểu học (35 phút) để thuận lợi trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục trong trường học.
    - Môn Ngoại ngữ 1 cấp tiểu học chỉ nên bố trí 105 tiết thay vì 140 tiết như trong dự thảo để đảm bảo cho học sinh có thể giao tiếp đơn giản thông qua bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, chủ yếu là hai kĩ năng nghe và nói; đồng thời giảm áp lực cho việc tăng biên chế giáo viên.
    - Môn Ngoại ngữ 1cấp trung học cần nghiên cứu tăng thời lượng lên 140 tiết để đáp ứng yêu cầu giao tiếp thông thường bằng cả 4 kỹ năng nói, đọc, viết, nghe của học sinh, đồng thời đáp ứng được yêu cầu về năng lực ngoại ngữ cần đạt của học sinh theo quy định.
    - Thời lượng môn Ngữ văn lớp 10 nên giữ nguyên 140 tiết/năm học thay vì giảm xuống 105 tiết/năm học.
    2.5. Về kế hoạch dạy học ở tiểu học, dự thảo Chương trình tổng thể nêu: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy học nội dung giáo dục của địa phương”.
    - Với các lớp không học 2 buổi/ngày có thể không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp. Tuy nhiên vẫn cần dạy học nội dung giáo dục của địa phương (dạy tích hợp, lồng ghép).
    2.6. Ưu điểm, hạn chế của việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo Chương trình tổng thể) phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường.
    a) Ưu điểm: Học sinh được lựa chọn môn học phù hợp với năng lực và sở thích của của bản thân, phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình học tập.
    b) Hạn chế:
    - Công tác tổ chức của nhà trường sẽ gặp nhiều khó khăn do thừa thiếu giáo viên cục bộ ở một số bộ môn. Việc lựa chọn các môn học tự chọn bắt buộc của học sinh có thể thay đổi theo từng năm học nên biên chế giáo viên của trường không ổn định.
    - Trong điều kiện hiện nay, nếu học sinh lựa chọn các môn học Mỹ thuật, Âm nhạc thì nhiều nhà trường chưa đáp ứng được do chưa có giáo viên.

    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Đa số ý kiến nhất trí theo dự thảo. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng vẫn cần có một kỳ thi quốc gia để đánh giá chất lượng học sinh và làm căn cứ để xét công nhận hoàn thành giáo dục THPT.

    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CT GDPT
    1. Quy định về lớp học, số học sinh, điểm trường
    Đa số ý kiến cho rằng cần thay đổi tỷ lệ học sinh/lớp cho phù hợp: Cấp Tiểu học không quá 30 học sinh/lớp; cấp trung học không quá 35 học sinh/lớp.
    2. Quy định về số lượng và cơ cấu giáo viên trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông
    Đa số ý kiến đề nghị điều chỉnh lại cho phù hợp. Cụ thể:
    a) Cấp Tiểu học:
    - Tăng số lượng giáo viên dạy môn ngoại ngữ để dạy đủ 4 tiết/tuần; tăng số lượng giáo viên các môn đặc thù cho các trường có nhiều điểm trường.
    - Quy định lại định mức giáo viên/lớp để tổ chức dạy học 2 buổi/ngày theo lộ trình triển khai chương trình mới của Bộ GDĐT.
    - Nâng tỷ lệ giáo viên/lớp đối với các trường dạy 2 buổi/ngày từ 1,5 lên 2,0 để thực hiện dạy 2 buổi/ngày và giảng dạy các môn đặc thù (Tiếng Anh, Tin học, Nghệ thuật, Thế giới công nghệ, hoạt động trải nghiệm sáng tạo).
    b) Cấp trung học:
    - Nâng tỷ lệ giáo viên/lớp để phù hợp với việc triển khai chương trình mới. Định mức giờ dạy đối với giáo viên THCS nên giảm xuống còn 17 tiết/tuần để giáo viên có thời gian đầu tư, bồi dưỡng chuyên môn, đồng thời đảm bảo công bằng với cấp THPT (hiện nay cấp THCS là 19 tiết/tuần; cấp THPT là 17 tiết/tuần).
    3. Quy định về cơ sở vật chất trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông
    Đa số ý kiến đề nghị điều chỉnh lại cho phù hợp vì hiện nay cơ sở vật chất và đồ dùng, thiết bị dạy học chưa phù hợp với chương trình mới, thiếu cả số lượng và chất lượng.
    4. Quy định về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội
    - Đa số ý kiến cho rằng không cần điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội vì các quy định hiện nay vẫn phù hợp.
    - Cấp tiểu học: Nên thêm quy định gia đình cùng nhà trường đánh giá một kỹ năng thực hành hằng ngày ở nhà của học sinh.
    5. Đối với trường tiểu học, dự thảo Chương trình tổng thể nêu: “Các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2buổi/ngàycần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 - 2019 dạy học 2 buổi/ngày cho lớp 1, đến năm học 2022 - 2023 dạy học 2 buổi/ngày chotất cả các lớp tiểu học” đã hợp lý chưa? Nếu chưa thì nên thay đổi như thế nào?
    - Nên quy định việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày ở cấp tiểu học là bắt buộc đối với 100% các địa phương để đảm bảo công bằng, đồng bộ và hiệu quả trong giáo dục, đồng thời dễ triển khai thực hiện ở địa phương.
    - Bộ GDĐT cần chỉ đạo các địa phương có kế hoạch cụ thể để đảm bảo cơ sở vật chất, giáo viên theo đúng lộ trình.
    6. Những môn học, hoạt động giáo dục khó thực hiện trong điều kiện của nhà trường hiện nay.
    Đa số ý kiến cho rằng các môn học, hoạt động sau là khó thực hiện:
    • Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    • Hoạt động nghệ thuật.
    • Âm nhạc.
    • Mỹ thuật.
    • Tiếng dân tộc thiểu số.
    • Ngoại ngữ 2.
    Nguyên nhân:
    - Nhiều giáo viên chưa được bồi dưỡng, hướng dẫn về phương pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    - Các trường THPT hiện chưa có giáo viên giảng dạy môn Mĩ thuật, Âm nhạc, Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 2.
    7. Các biện pháp cần thực hiện để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo Chương trình tổng thể
    - Cần quy định những định hướng chung, có tính bắt buộc để Nhà nước, cơ quan quản lý các cấp phải tuân thủ và đảm bảo đầy đủ các điều kiện thực hiện chương trình. Quy định như dự thảo dễ gây ra hiện tượng chương trình (văn bản chính sách của Nhà nước) phải tuân theo quyết định cá biệt hoặc văn bản dưới chính sách.
    - Cần quy định rõ học sinh phải bắt buộc lựa chọn 3 môn học cùng một lĩnh vực (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội) hay được quyền lựa chọn 3 môn học bất kỳ.
    - Cần đưa ra lộ trình triển khai chương trình mới đối với cấp THCS và THPT để các địa phương, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng giáo viên có kế hoạch chuẩn bị về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và đội ngũ giáo viên.
    - Đào tạo mới, đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên để đáp ứng các yêu cầu của chương trình mới.

    Trên đây là góp ý dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Sở GDĐT Tuyên Quang trân trọng báo cáo./.

Ủng hộ bài viết này