Chào mừng bạn đã đến với diễn đàn Hỗ trợ đổi mới giáo dục!
  1. Admin Administrator

    Thực hiện văn bản số 1677/GDĐT-GDTrH ngày 25/4/2017 của Bộ GDĐT về việc góp ý Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (GDPT), ngày 04/5/2017 Sở GDĐT Vĩnh Phúc đã ban hành các văn bản số 430/SGDĐT-GDTH; văn bản số 434/SGDĐT-GDTH về việc hướng dẫn các đơn vị thực tổ chức lấy ý kiến góp ý dự thảo chương trình GDPT tổng thể đối với lãnh đạo, chuyên viên các phòng/ban Sở GDĐT; đại diện lãnh đạo, chuyên viên các phòng GD&ĐT; đại diện cán bộ quản lý, giáo viên các trường tiểu học, trung học cở, trung học phổ thông;
    Ngày 5/5/2017; 10/5/2017 và 11/5/2017 Sở GD&ĐT đã tổ chức Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo chương trình GDPT tổng thể của đại diện lãnh đạo và giáo viên các phòng GDĐT, các trường THPT;
    Sau khi tổng hợp các ý kiến góp ý của các cá nhân, đơn vị và kết quả thảo luận tại các buổi hội thảo, Sở GDĐT Vĩnh Phúc thống nhất các ý kiến góp ý chương trình GDPT tổng thể như sau:

    I. VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG DỰ THẢO CHƯƠNG TRÌNH GDPT TỔNG THỂ
    1. Những vấn đề chung
    1.1. Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã thể hiện tốt việc quán triệt các quan điểm và tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Quyết định của Chính phủ.
    1.2. Dự thảo chương trình GDPT tổng thể đã tiếp cận được xu hướng phát triển chương trình GDPT của các nước tiên tiến, điều này thể hiện ở mục tiêu của chương trình, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục.
    1.3. Dự thảo chương trình GDPT tổng thể đã kế thừa các chương trình GDPT trước đây.
    1.4. Các phẩm chất chủ yếu cần hình thành và phát triển cho học sinh trong

    dự thảo chương trình GDPT tổng thể rất phù hợp.
    1.5. Các năng lực chung cần phát triển cho học sinh trong dự thảo chương trình GDPT tổng thể đã phù hợp.
    1.6. Các năng lực chuyên môn cần hình thành và phát triển cho học sinh trong dự thảo chương trình GDPT tổng thể đã phù hợp.
    1.7. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về phẩm chất của học sinh ở từng cấp học trong dự thảo chương trình GDPT tổng thể đã phù hợp.
    1.8. Biểu hiện yêu cầu cần đạt về năng lực của học sinh các cấp trong dự thảo chương trình GDPT tổng thể đã phù hợp với tâm sinh lý, sức khỏe của học sinh.

    2. Kế hoạch giáo dục.
    2.1. Dự thảo chương trình GDPT tổng thể nêu: “Hệ thống các môn học của CT GDPT được chia thành các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc” đã hợp lí.
    2.2. Dự thảo chương trình GDPT tổng thể nêu: “Trong một năm học thời gian thực học các môn học của chương trình GDPT tương đương với 37 tuần, gồm 35 tuần thực học dành cho các môn học bắt buộc; 2 tuần thực học dành cho các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương”.
    Đối với cấp THCS, THPT hợp lí.
    Đối với cấp Tiểu học chưa hợp lí. Do hiện nay, chủ yếu các trường Tiểu học đều dạy học nhiều hơn 5 buổi/ tuần (mà cơ bản là dạy 2 buổi/ ngày) nên thời gian học chỉ nên giữ nguyên 35 tuần thực học như hiện nay; các môn học tự chọn và nội dung giáo dục của địa phương nên bố trí học xen vào các tuần trong năm học.
    2.3. Số lượng các môn học và hoạt động giáo dục ở trường lớp của mỗi cấp học cơ bản phù hợp với lứa tuổi của học sinh.
    - Đối với cấp Tiểu học:
    + Môn Cuộc sống quanh ta (lớp 1,2,3), Tìm hiểu tự nhiên (lớp 4, lớp 5), Tìm hiểu xã hội (lớp 4, lớp 5) gộp thành môn Tự nhiên – Xã hội. Nếu gọi tên môn: “Cuộc sống quanh ta” về mặt khoa học không phù hợp.
    + Bỏ môn Thế giới công nghệ (lớp 1, 2, 3); Môn Tìm hiểu Tin học và Môn Tìm hiểu công nghệ bắt đầu học từ lớp 3, thay vì bắt đầu từ lớp 4, lớp 5 như trong dự thảo.
    - Cấp THCS, THPT: Hợp lí.
    2.4. Tên các môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp của từng cấp học cơ bản hợp lí.
    - Cấp Tiểu học: Môn Nghệ thuật chuyển thành môn Giáo dục nghệ thuật cho đồng nhất với các môn Giáo dục lối sống, Giáo dục thể chất trong dự thảo.
    - Cấp THCS, THPT: Không đổi tên môn Giáo dục công dân ở cả 3 cấp học khác nhau vì mục tiêu xuyên suốt của bộ môn chính là giáo dục công dân.
    2.5. Thời lượng giáo dục của từng môn học, hoạt động giáo dục ở từng lớp chưa hợp lý.
    - Cấp Tiểu học: Đề nghị cần thống nhất thời gian tiết học cho học sinh ở tất cả các khối lớp (35 phút đến 40 phút/tiết), giữa các tiết học phải có thời gian nghỉ ngơi, tập thể dục. Nếu quy định thời lượng tiết học cho các khối lớp khác nhau sẽ khó khăn cho công tác quản lý của nhà trường.
    - Cấp THCS: Môn KHTN giảm số tiết đối với lớp 6 xuống còn 3 tiết/tuần = 111 tiết/năm, vì học sinh lớp 6 mới tiếp cận chương trình THCS nên các thời lượng 140 tiết là nặng. Các môn khác trong dự thảo hợp lí.
    - Cấp THPT: Đưa nội dung giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống vào môn GDCD.
    2.6. Về kế hoạch dạy giáo dục của địa phương”. Quy định như vậy đã hợp lí. học ở tiểu học dự thảo chương trình GDPT tổng thể nêu: “Đối với những lớp chưa thực hiện dạy học 2 buổi / ngày, không bố trí thời gian tự học có hướng dẫn trên lớp và dạy học nội dung
    2.7. Việc cho phép học sinh lớp 11 và lớp 12, ngoài các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, được tự chọn 1 chuyên đề học tập và 3 môn học (trong số 11 môn học nêu trong dự thảo chương trình GDPT tổng thể) phù hợp với nguyện vọng của bản thân và điều kiện tổ chức của nhà trường.
    Ưu điểm: Tạo điều kiện tối đa cho người học, phân hóa học sinh theo hướng lựa chọn nghề nghiệp, tiết kiệm được thời gian, có thể học sâu hơn một môn học mình lựa chọn phù hợp với sở trường của bản thân, phục vụ tốt cho bước học tập tiếp theo.
    Hạn chế:
    + Không được bổ sung kiến thức các môn học còn lại nên mục tiêu giáo dục toàn diện.
    + Cơ sở vật chất, đội ngũ nhiều trường chưa đáp ứng nên sẽ gặp nhiều khó khăn khi triển khai thực hiện.

    3. Về định hướng đánh giá kết quả giáo dục
    Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức. Học sinh hoàn thành các môn học, tích lũy đủ kết quả đánh giá theo quy định của Bộ GDĐT được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông là hợp lý. Tuy nhiên cần có đánh giá ngoài độc lập để đối chiếu với kết quả đánh giá của các đơn vị.

    II. VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GDPT TỔNG THỂ
    1. Quy định hiện hành về số lớp học, số học sinh, điểm trường không cần thay đổi.
    2. Quy định về số lượng cơ cấu giáo viên cần sửa đổi Thông tư 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNVngày 23/8/2006cho phù hợp, cụ thể:
    - Cấp Tiểu học:
    + Tỉ lệ GV/lớp: GV dạy văn hóa phải đảm bảo tối thiểu 1,2 GV/lớp.
    + Biên chế cán bộ quản lý: Các trường tiểu học tổ chức học 2 buổi/ngày và tổ chức bán trú nên quy định trên không phù hợp với tình hình hiện nay, nên bổ sung trường hạng 1 có 4 CBQL; trường hạng 2 có 3 CBQL.
    + Bổ sung đủ nhân viên thư viện, Tổng phụ trách đội đảm bảo GV không phải kiêm nhiệm, ảnh hưởng đến công tác giảng dạy.
    + Sửa đổi bổ sung nhân viên bảo vệ biên chế cho trường học.
    - Cấp THCS, THPT: Vì cơ cấu bộ môn, thời lượng dành cho các bộ môn thay đổi nên cần thay đổi về cơ cấu giáo viên để đảm bảo mặt bằng thời gian lao động ở các bộ môn như nhau.
    3. Quy định hiện hành về cơ sở vật chất của trường phù hợp.
    4. Quy định hiện hành về quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội đã phù hợp với việc thực hiện chương trình GDPT tổng thể.
    5. Đối với trường tiểu học, dự thảo CT GDPT tổng thể nêu: “các trường chưa đủ điều kiện dạy học 2 buổi trên ngày cần tập trung đầu tư để bắt đầu từ năm học 2018 – 2019 dạy học 2 buổi trên ngày cho lớp 1, đến năm học 2022-2023 dạy học 2 buổi / ngày cho tất cả các lớp tiểu học” là hợp lí.
    6.Ở lớp 11 và lớp 12, việc đề xuất các trường xây dựng các tổ hợp môn học bắt buộc tự chọn (để học sinh tự chọn 3 môn từ các tổ hợp này) nhằm đáp ứng nhu cầu của người học đồng thời phù hợp với điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nhà trường đã hợp lý.
    7. Những môn học hoạt động giáo dục trong chương trình GDPT tổng thể khó thực hiện đó là môn học bắt buộc có tính phân hóa và hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    8. Để dạy học được các môn học và hoạt động giáo dục trong dự thảo chương trình GDPT tổng thể rất cần bổ sung đội ngũ giáo viên đảm bảo số lượng và cơ cấu, đồng thời cải thiện cơ sở vật chất hiện nay của nhà trường. Có thể thực hiện bằng các biện pháp đó là:
    - Nhà nước, các địa phương đầu tư ngân sách để tăng cường xây dựng CSVC cho các nhà trường nhiều hơn nữa.
    - Thực hiện tốt hơn nữa công tác xã hội hóa giáo dục để góp phần cải thiện CSVC hiện nay của các nhà trường.
    - Bổ sung đội ngũ giáo viên với cơ cấu hợp lý. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên hiện có, những giáo viên không đáp ứng được yêu cầu đổi mới cần phải có cơ chế giải quyết cho giáo viên nghỉ hoặc chuyển công tác phù hợp khác.
    - Sự chăm lo tích cực của phụ huynh, Đảng chính quyền, các đoàn thể của địa phương.

    Trên đây là ý kiến góp ý bản dự thảo chương trình GDPT tổng thể, Sở GD&ĐT Vĩnh Phúc trân trọng báo cáo./.

Ủng hộ bài viết này